Cửa văn phòng riêng đã đóng kín, đang giờ ăn trưa và chắc chẳng còn ai quấy nhiễu nên Tường tự do mơ màng. Hai tay mâm mê khung hình, Tường chăm chú nhìn người con gái thật đẹp đứng cạnh bồn hoa. Bức hình mới chụp hơn năm nay thôi, khi cuộc tình bắt đầu. Đôi mắt của người con gái thoáng buồn dù rằng miệng hé môi cười, xa vắng như không gian chia cách hai người. Bao nhiêu bài thơ đã viết, bao nhiêu bàn nhạc gửi gấm tâm tình đã được posted trên diễn đàn để tặng nhau nhưng vẫn chưa một lần gặp gỡ dù Tường đã năn nỉ nhiều lần. Tường thở dài, cẩn thận cất khung hình vào trong ngăn kéo, với tay cầm điện thoại gọi cho Thùy.
- Hello, em hả?
Tiếng người con gái rất rõ từ đầu giây bên kia:
- Em đây.
- Nhớ em nên anh gọi chứ không có gì quan trọng. Em đang làm gì đó?
Có tiếng cười nhỏ:
- Cũng như mọi ngày, giấy tờ sổ sách thông thường thôi anh.
- Sáng nay em có vào diễn đàn không?
- Có, anh.
- Thấy bài thơ anh mới viết cho em chưa?
- Em đọc rồi. Cám ơn anh. Bao giờ anh Đăng phổ nhạc, em sẽ hát cho anh nghe.
- Anh nghe mấy lần bài “Ngăn Cách”. Giọng em bùi ngùi nhưng thật ngọt ngào.
- Hi hi …
- Em này. Cho anh gặp em đi. Anh hỏi em lần này là lần thứ bao nhiêu rồi?
Tiếng Thùy ngập ngừng:
- Em cũng nói nhiều lần rồi. Không được đâu anh.
- Tại sao?
Không thấy Thùy trả lời, một ý tưởng chợt đến trong đầu Tường:
- Anh sẽ sang Dallas gặp em, dù em không muốn, rồi ra sao thì ra!
Thùy hốt hoảng:
- Không được đâu, vả lại anh đâu biết địa chỉ của em.
- Anh sẽ tìm ra. Dù có phải cầm hình em tới tất cả những chỗ đông người Việt, hỏi xem có ai biết em không.
Giọng Thùy nghẹn ngào:
- Anh điên rồi.
- Không, anh chỉ quá yêu em thôi.
Thùy bỗng bật khóc:
- Anh đừng làm khổ em. Thôi đành, để em nói anh nghe vậy.
- Anh nghe.
- Em không thể gặp em được vì em … đã có chồng!
Tường kêu lên ngỡ ngàng:
- Em nói sao? Khi chúng mình quen nhau em nói là em còn độc thân mà.
- Đó là điều em ân hận. Khi vào nét chơi em chỉ muốn vui đùa vì cái nghề kế toán của em thật boring. Em nói là mình còn độc thân vì còn mơ mộng, còn nhớ tuổi học trò, nhưng có ngờ đâu là em gặp anh, nghe giọng đọc thơ trầm ấm của anh, để rồi có cảm tình với anh thật nhiều.
Tường nuốt nước bọt dằn cơn xúc động:
- Em có yêu chồng em không?
- Lúc đầu thì không, nhưng bây giờ thì em rất yêu anh ấy và chúng em đã có với nhau một đứa con. Em lấy chồng lúc mới từ VN sang, còn xa lạ nên được một gia đình đã định cư lâu đời an ủi và giúp đỡ. Người con trai của gia đình đó rất yêu em, và mọi người trong gia đình, nhất là bà mẹ, đều thưong mến em. Xúc động vì ân tình đó em đã bằng lòng làm vợ anh ấy, dù chỉ mới có cảm tình chứ không yêu. Sống với nhau lâu ngày, quen hơi bén tiếng, em hiểu rõ tấm chân tình của anh ấy nên bây giờ em đã yêu chồng em.
Tường thở dài:
- Như vậy có bao giờ em yêu anh?
- Em … em không rõ nữa. Anh theo đuổi em mãi làm em mềm lòng. Em xin nói thật với anh, có lần em làm bài thơ tình vì nhớ anh, chồng em bắt gặp, hỏi em là làm thơ cho ai. Em đã xấu hổ, không dám nói thật, chỉ trả lời bâng quơ là tập làm thơ đấy thôi. Chồng em giận em mấy ngày, nhưng rồi cũng tha thứ vì biết là em chưa bao giờ hư hỏng, nếu có thì cũng chỉ là trong tư tưởng. Em sợ tội với Chúa lắm, em không bao giờ gặp anh đâu. Bây giờ anh biết hết rồi, em cũng sẽ không liên lạc với anh nữa. Cám ơn tình cảm của anh đã dành cho em. Chào anh.
Tuờng nghe tiếng sụt sùi, hốt hoảng kêu lớn “Em”, nhưng Thùy đã bỏ máy, chỉ còn tiếng vo vo từ điện thoại trong tay Tường. Anh gác máy, ngồi thừ người. Cuộc tình đẹp như mơ với người con gái dịu dàng ngoan đạonày không ngờ chấm rứt một cách thật ngỡ ngàng. Tường thở dài, mở ngăn kéo cầm khung hình ôm vào ngực, cúi đầu nói nhỏ “I love you so much, Thùy. What can I do now?”
***
Giang đọc lại mấy trang mình mới viết, gật đầu hài lòng. Hình như là mình đã tìm lại được tấm lòng bao dung xưa, giọng văn đã trở lại nhẹ nhàng, tình người lại thiết tha chứ không còn hằn học như mấy bài trước đây. Nâng cao ly café như tự thưởng cho mình nhưng chưa kịp uống thì điện thoại đã reo vang. Giang nhấc máy:
- Giang tôi nghe.
Có tiếng Thùy nghẹn ngào:
- Chú …
- Ờ, chú nghe.
- Cháu nói cho ảnh biết rồi.
Giang thoáng hiểu nhưng hỏi lại bằng giọng ân cần:
- Cháu nói cho Tường biết là cháu đã có chồng, phải không?
- Dạ.
Giang thở ra nhè nhẹ:
- Bây giờ cháu cảm thấy thế nào. Tâm hồn thanh thản và nhẹ nhàng hơn nhiều, dù có thoáng buồn, đúng không?
- Dạ.
- Để chú nói cho nghe nhé. Thùy biết là chú đã gặp Tường ở San Jose, trước khi chú di chuyển xuống đây, nhưng có điều chú không nói cho Thùy biết là Tường cũng đã có gia đình. Tình trạng ra sao thì chú không dám hỏi, nhưng hình như không mấy êm đềm. Chú sợ Thùy buồn nên không nói ra.
Thùy ngập ngừng:
- Cháu cũng đoán vậy, nhưng không dám hỏi thẳng anh ấy, vì cháu cũng có điều dấu diếm.
Giang trầm ngâm:
- Mấy năm lăn lộn trên cái diễn đàn đó, chú biết được bao nhiêu là cuộc tình nhưng chưa thấy được sự kết hợp nào. Chỉ như những cơn gió thoảng. Cháu đừng buồn nữa nhé, hãy bỏ thì giờ chăm sóc cho chồng con. Có lên nét thì tìm đọc văn chương chứ đừng lang thang, bị người ta theo chọc ghẹo hay ve vãn, gập nhiều phiền hà.
- Da. Cháu không dám nữa đâu. Còn chú, dạo này chú ra sao.
Giang mỉm cười:
- Thì vẫn như sao trên trời, long lanh nhìn trần thế.
- Hì… Cháu muốn hỏi chuyện chú và Ngọc Hải cơ.
- Thì vẫn vậy. Chỉ là bạn văn nghệ với nhau.
- Chú đừng … mê muội nhé.
Giang bật cười:
- Sao Thùy lại nói vậy.
- Chú biết không, cô ấy đã có tuổi nhưng còn trẻ đẹp nên nhiều người mê lắm. Anh Tường cũng có thời theo cô ấy. Chú già rồi, cô ấy không bao giờ yêu chú đâu.
Giang cười ha hả:
- Sao không nói luôn là đã hết thời rồi. Nói thật với cháu nhé, Ngọc Hải đến với chú cũng qua văn chương như chú cháu mình, cũng thuộc nòi lãng mạn đa tình, thơ văn bay bướm, đùa rỡn với nhau thì có nhưng tình cảm yêu đương thì không. Chú cũng hiểu chút ít về tâm lý và con người Ngọc Hải. Cô ấy không yêu ai đâu, chỉ muốn chinh phục để chứng tỏ lòng kiêu hãnh về thơ văn và nhan sắc của mình. Cô ấy làm thơ “Gửi Người Tình Xa”, ai đọc cũng tưởng như “người ấy” là mình, nhưng thực ra người ấy có thể là mây, là gió, là biển, hay là một người đàn ông đã đi qua đời cô ấy từ lúc còn thanh xuân. Không có mối tình ảo nào bền vững cả.
- Thật không chú?
- Thì cháu cứ xem trên diễn đàn nơi mà chú cháu mình gặp nhau đó. Cháu và Tường chẳng đi đến đâu, và có cuộc nhiều cuộc tình nữa mà chú không muốn nói đến. Yêu nhau một phần vì những tấm hình đẹp đẽ gửi cho nhau, nhưng tấm hình có thể đã cũ, đã được tô sửa, gặp nhau có thể ngỡ ngàng. Hình ảnh không phải là người thật, như hình chú trên bìa sau cuốn tuyển tập trông khá “ngon lành”, nhưng đến khi gặp chú Thùy mới nhìn thấy vết đồi mồi trên mặt, làn da nhăn trên lưng bàn tay. Chú cháu mình tuổi tác xa cách, không lấn cấn tình cảm nên khi gặp nhau dù có chút ngạc nhiên nhưng không ngỡ ngàng. Thùy tin chú đi, không bao giờ chú … mê muội vì Ngọc Hải đâu.
- Cháu chỉ sợ chú làm cô Uyển buồn. Cô hiền và thưong yêu chú lắm lắm.
- Chú biết.
Giọng Giang bỗng nhiên thoáng buồn:
- Thùy biết tại sao chú bỏ diễn đàn không? Không phải vì chuyện cãi nhau vớ vẩn với mấy thành viên và ban điều hành đâu. Thực ra là sự xấu hổ vì đã không mang lại được lòng mong muốn của cô, trong lúc cô đã hy sinh cho chú thật nhiều.
- Oh, cháu cứ tưởng …
- Để chú tâm tình cho cháu biết. Chú hồi hưu sớm, với kỳ vọng viết được một truyện dài liên quan cuộc đời của bạn bè trong lịch sử cận đại. Cô Uyển mua căn nhà gần biển này, hy sinh để chú sống một mình, trong sự yên lặng và khung cảnh thiên nhiên cho chú dễ làm việc, trong lúc cô Uyển vẫn ở tuốt trên San Jose, mỗi tháng chỉ xuống đây một lần thăm nuôi chú. Hơn sáu tháng rồi, truyện dài vẫn chưa có một chữ, và những truyện ngắn mới đây đã không còn cái xúc động mênh mang tình người như xưa mà chỉ thấy hằn học chua chát của những nhân vậy xấu xa trên cõi đời này. Cháu còn nghe không đó?
- Dạ. Cháu nghe chú.
- Chú đã bỏ quá nhiều thì giờ trên diễn đàn, tranh cãi những để tài vô bổ, trở nên hiếu thắng hơn là bao dung, tâm hồn chú đã bị vẩn đục vì những vũng bùn trong con phố ảo. Chú bỏ đi tìm lại con người chân thật cũ, cố gắng hoàn thành ước vọng, cho xứng đáng với sự hy sinh của cô. Cháu hiểu rồi chứ?
- Dạ. Chú làm cháu muốn khóc. Chú đúng là nhà văn.
Giang cười nhẹ:
- Đừng dùng chữ to lớn đó. Chú chỉ là người viết truyện tình với một, hai tuyển tập. Còn lâu mới được là nhà văn.
- Bao giờ mới được hả chú.
- Chú cũng không biết nữa. Chú đang đi tìm.
- Dạ. Cháu hiểu rồi.
- Ừ. Còn nhiều khó khăn ở đòi, nhưng hôm nay cháu đã vượt qua được một chướng ngại rất lớn. Cố lên Thùy.
- Dạ, cháu biết. Tới giờ tan sở rồi. Cháu phải đi đón con. Chào chú nhé, cháu sẽ gọi lại sau.
- OK. Bye Thùy.
Gác máy Giang xoa đôi bàn tay, nhìn xấp giấy nằm ngay ngắn trên bàn lòng thoáng vui khi nghĩ tới những người bạn nét, dù xa cách vẫn còn giữ liên lạc, và đối xử với nhau bằng tấm chân tình. Con phố có những vũng bùn nhưng cũng có những người qua lại rất dễ thương. Giang mỉm cười nhủ thầm “Mai gọi Chiêu xem sao. Bạn này làm thơ càng ngày càng hay”.
***
Con bé chạy lon ton tới, vòng tay ôm cổ mẹ nói thầm;
- I love you. Mommy.
Thùy hôn lên má con:
- I love you too. Má thương con lắm nè.
Thùy tiếp tục hôn lên má con vài lần trước khi dắt nó ra xe. Một ý nghĩ chợt đến khi xe đã ra khỏi bãi đậu, Thùy xoa đầu con:
- Má đưa con đi gặp Ba. Hôm nay chúng mình đi ăn ngoài. Con thích không?
Đứa bé nhìn sang, đôi mắt đen tròn xoay trên khuôn mặt trắng như bông gòn:
- Yes, Mommy. I like it.
Tuân ngạc nhiên khi thấy vợ dắt con gái vào văn phòng địa ốc của mình. Anh kéo ghế cho vợ ngồi, và bồng con trên tay:
- Em và con tìm anh có chuyện gì không?
Thùy nhìn chồng lắc đầu:
- Không. Chúng mình đi ăn tiệm với nhau hôm nay nhé.
Tuân ngơ ngác:
- Oh. Hôm nay là ngày lễ gì đặc biệt hả em?
Thùy mim cười trìu mến, đứng nên nựng con, và hôn nhẹ vào má Tuân:
- Thì cứ coi hôm nay là ngày của vợ chồng mình.
Tuân nhìn vợ đăm đăm, rồi như chợt hiểu. Ngày anh đọc bài thơ tình em viết cho người lạ anh tưởng là anh đã mất em. Cám ơn Chúa đã mang em đến với anh, và cám ơn người đã giữ em cho anh một đời. Tuân nói thầm, vòng tay ôm vợ trong niềm vui bất chợt. Trời đã về chiều nhưng nắng hè còn rực rỡ ngoài khung cửa, như tâm hồn những người yêu nhau.
Trần Quang Thiệu
July 7, 2009
Monday, July 2, 2012
Kể Truyện Trong Ngày Lễ Của Mẹ
Tôi sợ ngày Lễ của Mẹ Mother Day từ khi tôi còn nhỏ, vì tôi chào đời chưa bao lâu, tôi bị mẹ tôi vứt bỏ.
Mỗi năm tới Mother Day, tôi lại thấy ngại ngần, trước và sau dịp Lễ của Mẹ, ti vi thường chỉ phát những ca khúc ca ngợi tình yêu thương của mẹ, đài phát thanh cũng thế, có quảng cáo bánh quy đi chăng nữa, thì cũng cố lồng vào khúc nhạc ca ngợi tình mẹ. Mà đối với tôi, mỗi khúc ca lại gợi nỗi buồn.
Tôi đầy tháng thì bị người ta bỏ rơi ở ga xe lửa Tân Trúc, các bác cảnh sát trong đồn cạnh ga túm lại cho tôi bú, những người đàn ông này tìm ra được một bà đang nuôi con bú, giá mà không tìm được bà, có phải tôi đã khóc tới mức phát bệnh không. Đợi tôi bú no rồi ngủ ngon lành, các bác cảnh sát này mới nhẹ nhàng ẵm tôi tới Trung tâm nuôi dưỡng trẻ Đức Lan ở thôn Bảo Sơn, huyện Tân Trúc (Đài Loan). Tôi được trao cho các bà sơ hay cười ở đó.
Tôi chưa từng gặp mặt mẹ tôi, hồi nhỏ tôi chỉ biết có các sơ nuôi tôi lớn. Mỗi tối, khi các anh các chị ngồi học bài, tôi chả có việc gì làm bèn túm lấy các sơ, họ vào giáo đường đọc lễ tối, tôi cũng vào theo, có lúc chui xuống gầm bàn lễ chơi đùa, có lúc làm mặt quỷ doạ các sơ đang hành lễ, thường xuyên nhất là tôi dựa vào một sơ nào đó ngủ gục, và bà sơ tốt bụng không đợi xong buổi lễ, khẽ bế tôi về đưa lên lầu đi ngủ, tôi cứ cho rằng các bà sơ yêu tôi, là bởi tôi giúp họ có cớ trốn sớm ra khỏi các buổi lễ.
Những đứa trẻ như tôi đều là con của những gia đình không may mắn, nhưng đa số họ đều còn gia đình, tết đến, chú bác đều tới đón họ, chỉ có mỗi mình tôi, tôi không gia đình, nhà ở đâu tôi không biết.
Cũng vì thế, các nữ tu đối xử với đứa trẻ vô thừa nhận như tôi rất tốt, họ không bao giờ để cho ai bắt nạt tôi. Tôi học giỏi, các sơ vẫn tìm thêm người đến tình nguyện dạy tôi thêm.
Bấm đốt ngón tay, đã rất nhiều người làm gia sư cho tôi, đều là những nghiên cứu sinh, thậm chí giáo viên đại học các trường Thanh Hoa, Giao Thông quanh vùng, cả các kiến trúc sư, nên tôi từ nhỏ cũng rất giỏi tiếng Anh.
Các nữ tu ép tôi học đàn, năm lớp bốn tôi đã chơi phong cầm trong nhà thờ, tôi tham gia các cuộc thi hùng biện, được làm đại diện học sinh của trường, nhưng từ nhỏ tôi tôi không muốn tham gia bất kỳ chương trình nào kỷ niệm ngày Lễ của Mẹ.
Tôi yêu đàn, nhưng tôi kỵ phải chơi những bài hát tặng mẹ. Có những lúc tôi cũng nghĩ, mẹ mình là ai? Tôi đọc tiểu thuyết, tôi đoán tôi chính là một đứa con hoang. Cha tôi chơi bời chán thì bỏ rơi mẹ, và mẹ tôi còn quá trẻ chỉ còn biết mang tôi đi vứt bỏ.
Tôi đỗ vào cấp Ba trường Tân Trúc, rồi vào đại học, tôi đỗ khoa Xây Dựng của Đại học Thành Công (Đài Nam).
Thời sinh viên, tôi vừa học vừa làm, đôi khi bà Tôn, người nữ tu nuôi tôi lớn cũng đến thăm tôi, những cậu bạn cùng phòng thô lỗ của tôi vừa trông thấy bà đã vội trở nên lịch thiệp nhã nhặn. Rất nhiều bạn bè sau khi biết câu chuyện cuộc đời tôi đều an ủi, nói rằng, nhờ được các bà sơ nuôi dạy, tôi mới lịch lãm bặt thiệp và giỏi giang như bây giờ. Ngày tốt nghiệp, bạn bè ai cũng có cha mẹ tới mừng, tôi chỉ một người thân duy nhất là bà sơ họ Tôn, chủ nhiệm khoa vì thế đến chụp ảnh chung với bà.
Khi tôi đi lính nghĩa vụ, tôi tranh thủ về thăm trung tâm Đức Lan, lần này bà Tôn bỗng đột ngột trở nên nghiêm trang, bà gọi tôi ra, lấy từ ngăn kéo một phong bì, bảo tôi hãy xem bên trong có gì.
Trong phong bì có hai chiếc vé, bà Tôn cho tôi biết, khi cảnh sát ẵm tôi đến, trong áo tôi nhét hai tấm vé tàu này, rõ ràng mẹ tôi đã dùng hai chiếc vé này để đi từ nhà tới ga Tân Trúc, một vé là đi từ phía Nam lên Bình Đông, tấm vé tàu còn lại là đi từ Bình Đông lên Tân Trúc, đó là một tấm vé tàu chợ, tôi bỗng hiểu ra mẹ tôi là một phụ nữ nghèo.
Bà Tôn cho tôi biết, các bà sơ thường không thíchđi dò hỏi tìm hiểu về gia cảnh những em bé sơ sinh bị vứt bỏ, vì thế họ cứ giữ hai tấm vé này, chờ bao giờ tôi lớn sẽ tính, họ đã quan sát tôi rất lâu, cuối cùng kết luận tôi là người lý tính, đã có đủ năng lực để xử lý việc này. Họ đã từng đi qua thị trấn ấy, thấy nơi đó rất nhỏ, nếu thực lòng tôi muốn tìm người thân, có lẽ sẽ không khó khăn.
Tôi luôn mơ ước được gặp cha mẹ tôi một lần, nhưng giờ đây cầm hai tấm vé, tôi lại do dự. Giờ đây tôi đang sống rất tốt, có bằng đại học, có một cô người yêu sắp tính chuyện trăm năm, vì sao tôi lại phải đi ngược về quá khứ. Đi tìm kiếm một quá khứ hoàn toàn xa lạ? Hơn nữa tới tám chín phần là sẽ tìm được một sự thật không vui vẻ gì.
Bà Tôn ngược lại đã khích lệ tôi, bà cho rằng tôi đã có một tiền đồ sáng lạn, không lẽ nào để bí ẩn về cuộc đời tôi trở thành một bóng đen u tối phủ lên tâm hồn, bà khuyên tôi nên chuẩn bị sẵn cho tình huống xấu nhất, cho dù phát hiện ra sự thật là những gì tồi tệ, cũng nên giữ lấy niềm tin vào bản thân mình trong cuộc đời phía trước.
Và tôi đã lên đường.
Đó là một thị trấn bé xíu tôi chưa từng nghe qua tên gọi, trên vùng núi, từ Bình Đông còn phải ngồi ô tô hơn một tiếng mới tới. Dù là phương Nam nhưng vì đang mùa đông, nơi đây lạnh lẽo, thị trấn đúng là rất nhỏ, chỉ có một con đường nhựa, một đôi cửa hàng tạp hoá, một đồn cảnh sát, một văn phòng của chính quyền thị trấn, một trường tiểu học, một trường trung học, ngoài ra không có gì nữa.
Tôi chạy đi chạy lại giữa đồn cảnh sát và văn phòng chính quyền, rốt cuộc cũng tìm thấy hai thông tin có vẻ liên quan, một là dữ liệu của một đứa trẻ sơ sinh, một là thông tin gia đình báo mất tích con trai, thời gian mất tích là ngày thứ hai sau khi tôi bị bỏ rơi, đứa bé ra đời trước đó một tháng. Theo ghi chép của các sơ, khi tôi được phát hiện tại ga Tân Trúc, tôi cũng chỉ khoảng đầy tháng tuổi. Xem ra đây có vẻ là thông tin về tôi.
Vấn đề là: Bố tôi đã chết rồi, bố tôi qua đời sáu năm trước, mẹ tôi cũng chết cách đây mấy tháng. Tôi có một anh trai, anh đã bỏ thị trấn, không biết đi đâu.
Dù sao cũng là thị trấn nhỏ, ai cũng quen biết nhau, một cảnh sát trong đồn bảo tôi, mẹ tôi làm nhân viên trong trường tiểu học, rồi ông dẫn tôi tới gặp hiệu trưởng.
Hiệu trưởng là một người đàn bà vô cùng nhiệt tình.
Bà nói, đúng là mẹ tôi đã phục vụ lâu năm tại trường, là một người đàn bà vô cùng tốt bụng, còn bố tôi thì vô cùng lười biếng, tất cả đàn ông trong thị trấn đều ra ngoài kiếm việc làm, bố tôi không chịu đi xa, chỉ quanh quẩn trong thị trấn làm thuê công nhật, mà thị trấn nhỏ lấy đâu ra việc mà thuê người làm, vì thế cả đời bố tôi chỉ ăn bám vào tiền mẹ tôi làm nhân viên tạp vụ. Vì không chịu làm việc, tâm trạng ủ rũ, ông đành mượn rượu giải sầu, say rồi có lúc đánh đập mẹ tôi, đánh anh tôi. Tỉnh rượu thì cũng hối hận đấy, nhưng thói xấu quen rồi, mẹ tôi và anh tôi khổ sở cả đời vì ông. Anh trai tôi lúc học lớp Bảy đã phẫn chí bỏ nhà ra đi, từ đó không bao giờ quay trở lại đây.
Người đàn bà này rõ ràng có đẻ đứa con trai thứ hai, nhưng được một tháng tuổi thì đã mất tích bí ẩn.
Bà hiệu trưởng hỏi tôi mọi chuyện, tôi tình thực kể hết, khi bà biết tôi được lớn lên trong một cô nhi viện ở miền Bắc, bà bỗng xúc động lấy từ ngăn kéo ra một phong bì, đây là phong bì bà tìm thấy sau khi mẹ tôi mất, giấu dưới gối mẹ tôi, bà cho rằng những thứ trong đó chắc chắn phải có ý nghĩa rất quan trọng, nên bà quyết định giữ lại, đợi người thân của mẹ tôi tới nhận.
Tôi run rẩy mở ra, thấy bên trong có rất nhiều vé tàu, từng tệp vé tàu khứ hồi đi từ thị trấn miền Nam này tới Tân Trúc, tất cả được giữ gìn cẩn thận.
Bà hiệu trưởng cho tôi biết, nửa năm một lần mẹ tôi xin nghỉ đi miền Bắc thăm họ hàng, chả ai biết họ hàng nào, chỉ thấy mỗi khi về bà vui lắm. Cuối đời mẹ tôi theo đạo Phật, điều bà hạnh phúc nhất là đã quyên góp các tín đồ Phật giáo được một triệu Đài tệ để tặng cho cô nhi viện của đạo Thiên Chúa. Ngày trao tiền bà cũng đích thân đi.
Tôi nhớ lại, có lần một chiếc xe bus lớn đưa một đoàn thiện nam tín nữ từ phía Nam lên cô nhi viện. Họ trao tấm séc trị giá một triệu Đài tệ, quyên góp cho Trung tâm Đức Lan chúng tôi. Các bà sơ cảm động vô cùng, bắt tất cả bọn trẻ mồ côi phải đứng vào chụp ảnh kỷ niệm, tôi đang đánh bóng rổ cũng bị gọi vào chụp với mọi người một tấm ảnh. Giờ đây tôi bỗng dưng tìm thấy tấm ảnh ấy trong chiếc phong bì của mẹ, tôi hỏi mọi người mẹ tôi là ai, họ chỉ vào người đứng cách tôi không xa.
Nhưng làm tôi cảm động hơn là cuốn sổ lưu niệm ngày tốt nghiệp của lớp tôi, có một trang được photocopy lưu lại trong phong bì này, đó là trang chúng tôi đội mũ áo tốt nghiệp, có hình tôi ở trong đó.
Mẹ tôi, người mẹ đã vứt bỏ tôi, đã vẫn cứ đến thăm tôi, thậm chí có thể bà đã từng tham dự lễ tốt nghiệp của tôi.
Giọng hiệu trưởng nhẹ nhàng: "Anh nên cảm ơn mẹ anh, bà đã vứt bỏ anh, là để anh được sống một cuộc sống tốt đẹp hơn, nếu anh vẫn ở đây, cùng lắm là hết phổ thông anh lên thành phố làm thuê, ở đây hầu như rất ít người đỗ được vào Trung học. Mà nếu không may, không chịu nổi đòn roi của người cha, biết đâu anh cũng đã sớm bỏ nhà đi phiêu bạt như người anh trai, ra đi mãi mãi chả biết lưu lạc phương nào nữa."
Những giáo viên khác trong trường cũng đến, đều chúc mừng tôi đã tốt nghiệp đại học Quốc lập. Họ nói thị trấn này từ xưa tới nay chưa từng có học sinh nào thi đỗ được vào trường đại học Quốc lập.
Tôi bỗng nhiên rưng rưng, tôi hỏi bà hiệu trưởng ở đây có cây đàn nào không, bà nói, có đàn piano nhưng không tốt lắm, chỉ có đàn phong cầm thì mới mua.
Tôi mở nắp cây đàn, tôi hướng ra vừng mặt trời mùa đông ngoài cửa sổ, tôi chơi bản nhạc dành tặng mẹ trong những dịp Lễ của Mẹ, tôi muốn mọi người biết rằng, tôi tuy là một đứa trẻ mồ côi lớn lên trong trại mồ côi, nhưng tôi không mồ côi. Vì tôi có những bà sơ tốt bụng nuôi dưỡng tôi như mẹ. Vì tôi có một người mẹ đẻ ra tôi luôn thương tôi, bà quyết đoán và bà hy sinh, để tôi có môi trường tốt lớn lên, để tôi có tiền đồ sáng sủa.
Những thầy cô trong trường hát theo tôi, tiếng đàn lan toả trong không trung, trong thị trấn vùng núi lạnh lẽo, trong ánh mặt trời chiều, những cư dân trong thị trấn nhất định sẽ ngạc nhiên hỏi, vì sao hôm nay lại có giai điệu ngợi ca người mẹ?
Vì hôm nay với tôi là ngày Lễ của Mẹ, chiếc phong bì đựng những tấm vé tàu cũ này, làm tôi từ hôm nay, không còn là một đứa trẻ mồ côi sợ hãi ngày Lễ của Mẹ nữa.
Lý Gia Đồng (Đài Loan )
Trang Hạ dịch
Mỗi năm tới Mother Day, tôi lại thấy ngại ngần, trước và sau dịp Lễ của Mẹ, ti vi thường chỉ phát những ca khúc ca ngợi tình yêu thương của mẹ, đài phát thanh cũng thế, có quảng cáo bánh quy đi chăng nữa, thì cũng cố lồng vào khúc nhạc ca ngợi tình mẹ. Mà đối với tôi, mỗi khúc ca lại gợi nỗi buồn.
Tôi đầy tháng thì bị người ta bỏ rơi ở ga xe lửa Tân Trúc, các bác cảnh sát trong đồn cạnh ga túm lại cho tôi bú, những người đàn ông này tìm ra được một bà đang nuôi con bú, giá mà không tìm được bà, có phải tôi đã khóc tới mức phát bệnh không. Đợi tôi bú no rồi ngủ ngon lành, các bác cảnh sát này mới nhẹ nhàng ẵm tôi tới Trung tâm nuôi dưỡng trẻ Đức Lan ở thôn Bảo Sơn, huyện Tân Trúc (Đài Loan). Tôi được trao cho các bà sơ hay cười ở đó.
Tôi chưa từng gặp mặt mẹ tôi, hồi nhỏ tôi chỉ biết có các sơ nuôi tôi lớn. Mỗi tối, khi các anh các chị ngồi học bài, tôi chả có việc gì làm bèn túm lấy các sơ, họ vào giáo đường đọc lễ tối, tôi cũng vào theo, có lúc chui xuống gầm bàn lễ chơi đùa, có lúc làm mặt quỷ doạ các sơ đang hành lễ, thường xuyên nhất là tôi dựa vào một sơ nào đó ngủ gục, và bà sơ tốt bụng không đợi xong buổi lễ, khẽ bế tôi về đưa lên lầu đi ngủ, tôi cứ cho rằng các bà sơ yêu tôi, là bởi tôi giúp họ có cớ trốn sớm ra khỏi các buổi lễ.
Những đứa trẻ như tôi đều là con của những gia đình không may mắn, nhưng đa số họ đều còn gia đình, tết đến, chú bác đều tới đón họ, chỉ có mỗi mình tôi, tôi không gia đình, nhà ở đâu tôi không biết.
Cũng vì thế, các nữ tu đối xử với đứa trẻ vô thừa nhận như tôi rất tốt, họ không bao giờ để cho ai bắt nạt tôi. Tôi học giỏi, các sơ vẫn tìm thêm người đến tình nguyện dạy tôi thêm.
Bấm đốt ngón tay, đã rất nhiều người làm gia sư cho tôi, đều là những nghiên cứu sinh, thậm chí giáo viên đại học các trường Thanh Hoa, Giao Thông quanh vùng, cả các kiến trúc sư, nên tôi từ nhỏ cũng rất giỏi tiếng Anh.
Các nữ tu ép tôi học đàn, năm lớp bốn tôi đã chơi phong cầm trong nhà thờ, tôi tham gia các cuộc thi hùng biện, được làm đại diện học sinh của trường, nhưng từ nhỏ tôi tôi không muốn tham gia bất kỳ chương trình nào kỷ niệm ngày Lễ của Mẹ.
Tôi yêu đàn, nhưng tôi kỵ phải chơi những bài hát tặng mẹ. Có những lúc tôi cũng nghĩ, mẹ mình là ai? Tôi đọc tiểu thuyết, tôi đoán tôi chính là một đứa con hoang. Cha tôi chơi bời chán thì bỏ rơi mẹ, và mẹ tôi còn quá trẻ chỉ còn biết mang tôi đi vứt bỏ.
Tôi đỗ vào cấp Ba trường Tân Trúc, rồi vào đại học, tôi đỗ khoa Xây Dựng của Đại học Thành Công (Đài Nam).
Thời sinh viên, tôi vừa học vừa làm, đôi khi bà Tôn, người nữ tu nuôi tôi lớn cũng đến thăm tôi, những cậu bạn cùng phòng thô lỗ của tôi vừa trông thấy bà đã vội trở nên lịch thiệp nhã nhặn. Rất nhiều bạn bè sau khi biết câu chuyện cuộc đời tôi đều an ủi, nói rằng, nhờ được các bà sơ nuôi dạy, tôi mới lịch lãm bặt thiệp và giỏi giang như bây giờ. Ngày tốt nghiệp, bạn bè ai cũng có cha mẹ tới mừng, tôi chỉ một người thân duy nhất là bà sơ họ Tôn, chủ nhiệm khoa vì thế đến chụp ảnh chung với bà.
Khi tôi đi lính nghĩa vụ, tôi tranh thủ về thăm trung tâm Đức Lan, lần này bà Tôn bỗng đột ngột trở nên nghiêm trang, bà gọi tôi ra, lấy từ ngăn kéo một phong bì, bảo tôi hãy xem bên trong có gì.
Trong phong bì có hai chiếc vé, bà Tôn cho tôi biết, khi cảnh sát ẵm tôi đến, trong áo tôi nhét hai tấm vé tàu này, rõ ràng mẹ tôi đã dùng hai chiếc vé này để đi từ nhà tới ga Tân Trúc, một vé là đi từ phía Nam lên Bình Đông, tấm vé tàu còn lại là đi từ Bình Đông lên Tân Trúc, đó là một tấm vé tàu chợ, tôi bỗng hiểu ra mẹ tôi là một phụ nữ nghèo.
Bà Tôn cho tôi biết, các bà sơ thường không thíchđi dò hỏi tìm hiểu về gia cảnh những em bé sơ sinh bị vứt bỏ, vì thế họ cứ giữ hai tấm vé này, chờ bao giờ tôi lớn sẽ tính, họ đã quan sát tôi rất lâu, cuối cùng kết luận tôi là người lý tính, đã có đủ năng lực để xử lý việc này. Họ đã từng đi qua thị trấn ấy, thấy nơi đó rất nhỏ, nếu thực lòng tôi muốn tìm người thân, có lẽ sẽ không khó khăn.
Tôi luôn mơ ước được gặp cha mẹ tôi một lần, nhưng giờ đây cầm hai tấm vé, tôi lại do dự. Giờ đây tôi đang sống rất tốt, có bằng đại học, có một cô người yêu sắp tính chuyện trăm năm, vì sao tôi lại phải đi ngược về quá khứ. Đi tìm kiếm một quá khứ hoàn toàn xa lạ? Hơn nữa tới tám chín phần là sẽ tìm được một sự thật không vui vẻ gì.
Bà Tôn ngược lại đã khích lệ tôi, bà cho rằng tôi đã có một tiền đồ sáng lạn, không lẽ nào để bí ẩn về cuộc đời tôi trở thành một bóng đen u tối phủ lên tâm hồn, bà khuyên tôi nên chuẩn bị sẵn cho tình huống xấu nhất, cho dù phát hiện ra sự thật là những gì tồi tệ, cũng nên giữ lấy niềm tin vào bản thân mình trong cuộc đời phía trước.
Và tôi đã lên đường.
Đó là một thị trấn bé xíu tôi chưa từng nghe qua tên gọi, trên vùng núi, từ Bình Đông còn phải ngồi ô tô hơn một tiếng mới tới. Dù là phương Nam nhưng vì đang mùa đông, nơi đây lạnh lẽo, thị trấn đúng là rất nhỏ, chỉ có một con đường nhựa, một đôi cửa hàng tạp hoá, một đồn cảnh sát, một văn phòng của chính quyền thị trấn, một trường tiểu học, một trường trung học, ngoài ra không có gì nữa.
Tôi chạy đi chạy lại giữa đồn cảnh sát và văn phòng chính quyền, rốt cuộc cũng tìm thấy hai thông tin có vẻ liên quan, một là dữ liệu của một đứa trẻ sơ sinh, một là thông tin gia đình báo mất tích con trai, thời gian mất tích là ngày thứ hai sau khi tôi bị bỏ rơi, đứa bé ra đời trước đó một tháng. Theo ghi chép của các sơ, khi tôi được phát hiện tại ga Tân Trúc, tôi cũng chỉ khoảng đầy tháng tuổi. Xem ra đây có vẻ là thông tin về tôi.
Vấn đề là: Bố tôi đã chết rồi, bố tôi qua đời sáu năm trước, mẹ tôi cũng chết cách đây mấy tháng. Tôi có một anh trai, anh đã bỏ thị trấn, không biết đi đâu.
Dù sao cũng là thị trấn nhỏ, ai cũng quen biết nhau, một cảnh sát trong đồn bảo tôi, mẹ tôi làm nhân viên trong trường tiểu học, rồi ông dẫn tôi tới gặp hiệu trưởng.
Hiệu trưởng là một người đàn bà vô cùng nhiệt tình.
Bà nói, đúng là mẹ tôi đã phục vụ lâu năm tại trường, là một người đàn bà vô cùng tốt bụng, còn bố tôi thì vô cùng lười biếng, tất cả đàn ông trong thị trấn đều ra ngoài kiếm việc làm, bố tôi không chịu đi xa, chỉ quanh quẩn trong thị trấn làm thuê công nhật, mà thị trấn nhỏ lấy đâu ra việc mà thuê người làm, vì thế cả đời bố tôi chỉ ăn bám vào tiền mẹ tôi làm nhân viên tạp vụ. Vì không chịu làm việc, tâm trạng ủ rũ, ông đành mượn rượu giải sầu, say rồi có lúc đánh đập mẹ tôi, đánh anh tôi. Tỉnh rượu thì cũng hối hận đấy, nhưng thói xấu quen rồi, mẹ tôi và anh tôi khổ sở cả đời vì ông. Anh trai tôi lúc học lớp Bảy đã phẫn chí bỏ nhà ra đi, từ đó không bao giờ quay trở lại đây.
Người đàn bà này rõ ràng có đẻ đứa con trai thứ hai, nhưng được một tháng tuổi thì đã mất tích bí ẩn.
Bà hiệu trưởng hỏi tôi mọi chuyện, tôi tình thực kể hết, khi bà biết tôi được lớn lên trong một cô nhi viện ở miền Bắc, bà bỗng xúc động lấy từ ngăn kéo ra một phong bì, đây là phong bì bà tìm thấy sau khi mẹ tôi mất, giấu dưới gối mẹ tôi, bà cho rằng những thứ trong đó chắc chắn phải có ý nghĩa rất quan trọng, nên bà quyết định giữ lại, đợi người thân của mẹ tôi tới nhận.
Tôi run rẩy mở ra, thấy bên trong có rất nhiều vé tàu, từng tệp vé tàu khứ hồi đi từ thị trấn miền Nam này tới Tân Trúc, tất cả được giữ gìn cẩn thận.
Bà hiệu trưởng cho tôi biết, nửa năm một lần mẹ tôi xin nghỉ đi miền Bắc thăm họ hàng, chả ai biết họ hàng nào, chỉ thấy mỗi khi về bà vui lắm. Cuối đời mẹ tôi theo đạo Phật, điều bà hạnh phúc nhất là đã quyên góp các tín đồ Phật giáo được một triệu Đài tệ để tặng cho cô nhi viện của đạo Thiên Chúa. Ngày trao tiền bà cũng đích thân đi.
Tôi nhớ lại, có lần một chiếc xe bus lớn đưa một đoàn thiện nam tín nữ từ phía Nam lên cô nhi viện. Họ trao tấm séc trị giá một triệu Đài tệ, quyên góp cho Trung tâm Đức Lan chúng tôi. Các bà sơ cảm động vô cùng, bắt tất cả bọn trẻ mồ côi phải đứng vào chụp ảnh kỷ niệm, tôi đang đánh bóng rổ cũng bị gọi vào chụp với mọi người một tấm ảnh. Giờ đây tôi bỗng dưng tìm thấy tấm ảnh ấy trong chiếc phong bì của mẹ, tôi hỏi mọi người mẹ tôi là ai, họ chỉ vào người đứng cách tôi không xa.
Nhưng làm tôi cảm động hơn là cuốn sổ lưu niệm ngày tốt nghiệp của lớp tôi, có một trang được photocopy lưu lại trong phong bì này, đó là trang chúng tôi đội mũ áo tốt nghiệp, có hình tôi ở trong đó.
Mẹ tôi, người mẹ đã vứt bỏ tôi, đã vẫn cứ đến thăm tôi, thậm chí có thể bà đã từng tham dự lễ tốt nghiệp của tôi.
Giọng hiệu trưởng nhẹ nhàng: "Anh nên cảm ơn mẹ anh, bà đã vứt bỏ anh, là để anh được sống một cuộc sống tốt đẹp hơn, nếu anh vẫn ở đây, cùng lắm là hết phổ thông anh lên thành phố làm thuê, ở đây hầu như rất ít người đỗ được vào Trung học. Mà nếu không may, không chịu nổi đòn roi của người cha, biết đâu anh cũng đã sớm bỏ nhà đi phiêu bạt như người anh trai, ra đi mãi mãi chả biết lưu lạc phương nào nữa."
Những giáo viên khác trong trường cũng đến, đều chúc mừng tôi đã tốt nghiệp đại học Quốc lập. Họ nói thị trấn này từ xưa tới nay chưa từng có học sinh nào thi đỗ được vào trường đại học Quốc lập.
Tôi bỗng nhiên rưng rưng, tôi hỏi bà hiệu trưởng ở đây có cây đàn nào không, bà nói, có đàn piano nhưng không tốt lắm, chỉ có đàn phong cầm thì mới mua.
Tôi mở nắp cây đàn, tôi hướng ra vừng mặt trời mùa đông ngoài cửa sổ, tôi chơi bản nhạc dành tặng mẹ trong những dịp Lễ của Mẹ, tôi muốn mọi người biết rằng, tôi tuy là một đứa trẻ mồ côi lớn lên trong trại mồ côi, nhưng tôi không mồ côi. Vì tôi có những bà sơ tốt bụng nuôi dưỡng tôi như mẹ. Vì tôi có một người mẹ đẻ ra tôi luôn thương tôi, bà quyết đoán và bà hy sinh, để tôi có môi trường tốt lớn lên, để tôi có tiền đồ sáng sủa.
Những thầy cô trong trường hát theo tôi, tiếng đàn lan toả trong không trung, trong thị trấn vùng núi lạnh lẽo, trong ánh mặt trời chiều, những cư dân trong thị trấn nhất định sẽ ngạc nhiên hỏi, vì sao hôm nay lại có giai điệu ngợi ca người mẹ?
Vì hôm nay với tôi là ngày Lễ của Mẹ, chiếc phong bì đựng những tấm vé tàu cũ này, làm tôi từ hôm nay, không còn là một đứa trẻ mồ côi sợ hãi ngày Lễ của Mẹ nữa.
Lý Gia Đồng (Đài Loan )
Trang Hạ dịch
By:
Sáng
On 7:11 PM
Áo đầm trắng Gia Long
Khu Eastside, “Khu người già”...
Mị gọi đó là khu người già vì ngay từ ngày đầu đến ở bên cạnh khu này, Mị đã thấy các cụ già sinh hoạt ở đó. Có một điều gì thu hút sự chú ý của Mị ngay mà không sao giải thích được. Có lẽ đến một lứa tuổi nào đó, khi không còn trẻ trung gì nữa- dù có thể tâm hồn vẫn còn trẻ trung- con người ta dễ bắt được niềm đồng cảm với tuổi già, trong khi vẫn có thể hướng về và sống cho những người trẻ tuổi. Mị thường mỉm cười tự hỏi:
- Mình đã già rồi ư?...
Mà thật, đó chính là “khu người già”.
Mị bắt đầu chú ý đến thành phần những người già đang sống và sinh hoạt ở đó. Người Việt có, người Mễ có, người gốc Âu châu, Á châu có... Đa số sống luôn trong các căn phòng xinh xắn của khu người già; một số ít thì sống ở nhà riêng, được con cái đưa đến mỗi ngày để sinh hoạt. Mị có thể nhìn thấy những buổi sáng sớm, khoảng 7 giờ, các cụ tập các môn thể dục dưỡng sinh, hoặc những buổi tối cuối tuần, các cụ tham gia sinh hoạt ca nhạc, khiêu vũ vui vẻ. Ấn tượng phần nào đã có trong đầu Mị về những “viện dưỡng lão” tạm lu mờ.
Hôm nay cũng theo lệ thường, sau giờ làm việc, Mị lại tản bộ vào khu người già, tìm một đôi phút thanh thản – cái thanh thản khó có được ở tuổi của mình. Giờ này các cụ có lẽ đang dùng cơm chiều nên sân vắng tanh. Mị hít thở một hơi dài, tâm hồn như buông lỏng...
Có tiếng xe hơi dừng sau lưng Mị, rồi tắt máy, rồi tiếng cửa xe đóng lại. Mị không nhìn lại. Mị đã không muốn để tâm vào bất cứ điều gì vặt vãnh trong khi đang tìm sự thảnh thơi.
Như có một làn gió thoảng qua, rất nhẹ nhàng... đó là tiếng của một người phụ nữ đi qua. Mị đoán vậy, nhưng đoán thêm là đây không phải một người già. Bỗng nhiên, như một phản xạ, Mị quay lại nhìn. Người phụ nữ đã đi đến khúc quanh, bị che khuất bởi một giàn hoa. Mị chợt nghe như có một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Điều gì vậy? Rồi cũng như một phản xạ, Mị chạy đến khúc quanh, nhìn cho rõ người phụ nữ ấy....
Mầu trắng. Mầu áo trắng. Mầu áo đầm trắng...Áo đầm trắng Gia Long....!!!
Mị gọi đó là khu người già vì ngay từ ngày đầu đến ở bên cạnh khu này, Mị đã thấy các cụ già sinh hoạt ở đó. Có một điều gì thu hút sự chú ý của Mị ngay mà không sao giải thích được. Có lẽ đến một lứa tuổi nào đó, khi không còn trẻ trung gì nữa- dù có thể tâm hồn vẫn còn trẻ trung- con người ta dễ bắt được niềm đồng cảm với tuổi già, trong khi vẫn có thể hướng về và sống cho những người trẻ tuổi. Mị thường mỉm cười tự hỏi:
- Mình đã già rồi ư?...
Mà thật, đó chính là “khu người già”.
Mị bắt đầu chú ý đến thành phần những người già đang sống và sinh hoạt ở đó. Người Việt có, người Mễ có, người gốc Âu châu, Á châu có... Đa số sống luôn trong các căn phòng xinh xắn của khu người già; một số ít thì sống ở nhà riêng, được con cái đưa đến mỗi ngày để sinh hoạt. Mị có thể nhìn thấy những buổi sáng sớm, khoảng 7 giờ, các cụ tập các môn thể dục dưỡng sinh, hoặc những buổi tối cuối tuần, các cụ tham gia sinh hoạt ca nhạc, khiêu vũ vui vẻ. Ấn tượng phần nào đã có trong đầu Mị về những “viện dưỡng lão” tạm lu mờ.
Hôm nay cũng theo lệ thường, sau giờ làm việc, Mị lại tản bộ vào khu người già, tìm một đôi phút thanh thản – cái thanh thản khó có được ở tuổi của mình. Giờ này các cụ có lẽ đang dùng cơm chiều nên sân vắng tanh. Mị hít thở một hơi dài, tâm hồn như buông lỏng...
Có tiếng xe hơi dừng sau lưng Mị, rồi tắt máy, rồi tiếng cửa xe đóng lại. Mị không nhìn lại. Mị đã không muốn để tâm vào bất cứ điều gì vặt vãnh trong khi đang tìm sự thảnh thơi.
Như có một làn gió thoảng qua, rất nhẹ nhàng... đó là tiếng của một người phụ nữ đi qua. Mị đoán vậy, nhưng đoán thêm là đây không phải một người già. Bỗng nhiên, như một phản xạ, Mị quay lại nhìn. Người phụ nữ đã đi đến khúc quanh, bị che khuất bởi một giàn hoa. Mị chợt nghe như có một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Điều gì vậy? Rồi cũng như một phản xạ, Mị chạy đến khúc quanh, nhìn cho rõ người phụ nữ ấy....
Mầu trắng. Mầu áo trắng. Mầu áo đầm trắng...Áo đầm trắng Gia Long....!!!
By:
Sáng
On 7:09 PM
Subscribe to:
Posts (Atom)
