Saturday, May 4, 2013

Em có nên dùng kim để sơ cứu người bị tai biến mạch máu não?

Em thấy trên mạng hướng dẫn là không nên đưa bệnh nhân đi cấp cứu ngay mà dùng kim để chích vào đầu ngón tay. Em có nên áp dụng không?
Thưa bác sĩ,
Em vừa thấy bài viết này. Mong các bác sĩ cho xác nhận về phương pháp này :
[…]
Chỉ với một cây kim, ta có thể cứu được mạng người. […]
Khi có bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, chúng ta phải giữ bình tĩnh, đứng cuống quít. Điều quan trọng nhất là ĐỪNG BAO GIỜ DI CHUYỂN NẠN NHÂN, bất kỳ là họ đang bị nạn ở đâu. Vì nếu nạn nhân bị di chuyển, các tia huyết quản trong não bộ sẽ vỡ ra. Từ từ giúp bệnh nhân ngồi thẳng dậy, và chúng ta có thể bắt đầu công việc “rút máu”.
Nếu quí vị có sẵn một ống tiêm thuốc, thì tốt nhất, nếu không thì một cây kim may, hay một cây kim gúc, cũng có thể giúp chúng ta được.
1- Trước hết, chúng ta hảy hơ nóng kim bằng lửa (bật lửa, đèn nến) để sát trùng, rồi dùng kim để chích trên mười đầu ngón tay.
2- Chúng ta không cần tìm một huyệt đặc biệt nào cả, chỉ cần chích vào đầu ngón tay, cách móng tay độ một ly (milimetre).
3- Chích kim vào cho đến khi có máu rỉ ra.
4- Nếu máu không chảy, nên nặn đầu ngón tay cho đến khi thấy máu nhỏ giọt.
5- Khi máu đã chảy từ cả mười đầu ngón tay, thì chờ vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh dậy.
6- Nếu mồm bệnh nhân bị méo, thì chúng ta phải nắm hai (lổ) tai của bệnh nhân kéo mạnh, cho đến khi hai tai đều ửng màu đỏ.
7- Châm vào dái tai (ear lobe) hai mũi mỗi bên cho đến khi máu nhỏ giọt từ mỗi dái tai. Sau vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh lại. Chúng ta hãy kiên tâm chờ cho đến khi bệnh nhân hoàn toàn hồi tỉnh và không có một triệu chứng nào khác thường mới mang bệnh nhân đến bệnh viện.
Vì nếu nạn nhân được chuyên chở vào bệnh viện sớm hơn. Có thể những dằn sóc của xe cứu thương sẽ làm cho các mao quản (capillaries) trong não bộ bị vỡ ra. Nếu sau khi đó mà họ còn có thể đi đứng được, thì đúng là do phúc đức của Tổ Tiên họ. […] Phương pháp trên có đúng không ạ? Em có nên áp dụng?
(Bod Nguyen - bodnguyen...@gmail.com )


Bod Nguyen thân mến,
Tai biến mạch máu não (đột quỵ) là danh từ chung để chỉ các tổn thương của não, màng não gây nên bởi sự hư biến của mạch máu não do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Tai biến mạch máu não (TBMMN) xảy ra khi việc cung cấp máu lên một phần bộ não bị đột ngột ngừng trệ, gồm có hai loại: nhồi máu não (do tắc mạch) hoặc chảy máu não (do vỡ mạch).
Các triệu chứng của TBMMN xảy ra đột ngột ở bệnh nhân (BN) như:
- Tê cứng ở mặt, tay hoặc chân - đặc biệt là tê cứng nửa người, nhìn không rõ
- Không cử động được chân tay
- Không nói được hoặc không hiểu được người khác nói
- Đau đầu dữ dội
Phụ nữ có thể có các biểu hiện đột ngột: đau ở mặt hoặc chân, bị nấc, cảm thấy buồn nôn, mệt, tức ngực, khó thở, tim đập nhanh bất thường.
Những câu hỏi để nhận diện tai biến mạch máu não là: “yêu cầu người đó cười, nói, giơ tay lên” chính là nhằm phát hiện một số dấu hiệu của TBMMN.
BN TBMMN có thể bị một trong hai dạng: chảy máu não do vỡ mạch hoặc nhồi máu não do tắc mạch. Hai bệnh này đối nghịch nhau hoàn toàn về nguyên nhân, cơ chế và cách điều trị. Các BS chuyên khoa cũng không thể chỉ dựa vào biểu hiện bên ngoài để chẩn đoán nên việc xử trí phải hết sức thận trọng.
Xử trí TBMMN bằng việc trích máu được áp dụng cách đây đã lâu và chỉ có hiệu quả trong một số trường hợp (do tăng huyết áp), còn với những nguyên nhân khác thì có khi còn làm bệnh tiến triển nặng nề hơn (tai biến do tắc mạch).
Em nên biết, đối với người bị TBMMN, thời gian là vàng, mạch máu đông hoặc vỡ phải được xử lý thật nhanh để đề phòng các biến chứng như liệt toàn thân, bại não… Vì vậy, không được tự điều trị cho BN dù chỉ là các động tác như bấm huyệt nhân trung, châm cứu, đánh gió... có thể vô tình làm tình trạng BN trầm trọng hơn.
Những việc cần làm khi có người bị TBMMN như sau:
- Gọi xe cấp cứu tới, cố gắng liên hệ với BS thần kinh để được tư vấn sớm trước khi đưa BN đến bệnh viện). Trong khi chờ xe cấp cứu tới, quan sát và hỏi để biết BN còn tỉnh táo hay lơ mơ hoặc hôn mê.
Nếu bệnh nhân còn tỉnh: cần để bệnh nhân nằm yên tĩnh, chờ xe cấp cứu đến.
Nếu bệnh nhân hôn mê: cần xem bệnh nhân đang còn thở bình thường, thở nhanh, thở chậm, hay đã ngừng thở... Nếu thấy bệnh nhân ngừng thở: phải hô hấp nhân tạo, nếu cần phải dùng miệng thổi hơi vào miệng bệnh nhân (hô hấp miệng - miệng).
Người nhà phải hết sức bình tĩnh khi xử trí, và hãy:
+ Đặt BN nằm xuống trong tư thế thoải mái, nới lỏng quần áo, nói chuyện với họ để họ yên tâm.
+ Nói BN thở chậm và sâu vì điều này giúp bệnh nhân bình tĩnh và đồng thời giúp đưa máu lên não nhiều hơn.
+ Giữ đầu mát và thân ấm. Nếu có đá lạnh, có thể chấm nhẹ qua đầu người bệnh để giữ mát. Bọc đá trong khăn để không quá lạnh.
Với các kiến thức trên, AloBacsi nghĩ rằng chắc sẽ giúp em hiểu đúng về việc xử trí TBMMN.
Thân ái!

BS-CK1 Nguyễn Minh Thu ~ "Alobacsi.vn"

Monday, March 4, 2013

Cách sơ cứu người bị bỏng

Khi sửa chữa các thiết bị điện dân dụng, tại nạn là không tránh khỏi, bài viết này sẽ hướng dẫn cho nhân viên công ty và bạn đọc cách sơ cứu khi bị bỏng
bong

1. Xử trí và chăm sóc bỏng nói chung:

* Cắt đứt nguyên nhân gây bỏng: Đây là việc làm trước hết để tránh cho nạn nhân bị bỏng sâu và rộng thêm:
+ Dập tắt lửa trên da (bằng nước hoặc cát, áo khoác, chăn, vải…không dùng vải nhựa, nilon đẻ dập lửa), tháo bỏ quần áo chỗ cháy hay thấm nước nóng (bỏng nước sôi, dầu, bỏng do ngã vào hố vôi nóng…) hay các dung dịch hóa chất, cắt nguồn điện nếu là bỏng do điện, bỏng do acid thì rửa bằng nước vôi loãng hoặc nước xà phòng, bỏng do kiềm thì đắp  dấm  ăn dung dịch 0,5 đến 5% hay nước chanh quả, bọc vùng bỏng chắc chắn rồi đổ nước lạnh lên, có thể cho vòi nước máy chảy trực tiếp lên vùng bỏng từ 20 – 30 phút, hoặc ngâm phần chi bị bỏng trong nước lạnh 3-4 phút 1 lần cho đến khi nạn nhân cảm  thấy đỡ đau rát.
+ Tháo bỏ các vật cứng trên vùng bỏng như giầy, ủng, vòng, nhẫn trước khi vết bỏng sưng nề.
+ Băng vô khuẩn vết bỏng sau khi đã rửa sạch vết bỏng bằng nước muối đẳng trương.
Lưu ý:
+ Không dùng nước đá để làm mát các vết bỏng hoặc ngâm toàn bộ cơ thể vào trong  nước.
+ Tháo bỏ quần áo bị cháy đã được làm mát, không lột quần áo mà dùng kéo cắt.
* Phòng chống sốc:
+ Đặt nạn nhân ở tư thế nằm, nghỉ ngơi yên tĩnh.
+ Động viên, an ủi nạn nhân.
+ Khi nạn nhân tỉnh táo, không nôn, chướng bụng và không có những chấn thương khác, cho nạn nhân uống dịch A (Natribicarbonat 4g+đường 100g+nước vừa đủ 1 lít trong 24 giờ uống 1-2 lít),  nước chè đường nóng hoặc ORS , ủ ấm (nếu trời rét).
+ Các thuốc giảm đau, an thần: Phong bế novocain dung dịch 0,25%, dùng hỗn hợp giảm đau gồm:
- Promedol dung dịch 2% từ 1ml đến 2ml.
- Dimedrol dung dịch 2% từ 1ml đến 2ml.
- Pipolphen dung dịch 2,5% từ 1ml đến 2ml.
3 thứ trộn lẫn tiêm bắp. Sau khi tiêm 10 – 12 phút, đa số người bệnh ngủ thiếp, đau đớn giảm, còn có tác dụng chóng phù, nôn và kháng Histamin (chống sốc). Dịch truyền (Ringerlactat, NaCl 0,9%). Nếu nghi ngờ nạn nhân có chấn thương khác bên trong thì không dùng thuốc giảm đau, an thần mạnh.
+ Theo dõi dấu hiệu sinh tồn, đảm bảo nhịp thở trên 12lần/phút.
+ Vận chuyển nạn nhân nhẹ nhàng đến cơ sở điều trị càng sớm càng tốt.
* Duy trì đường hô hấp:
Nạn nhân bị bỏng vùng đầu mặt cổ, nhất là khi bị kẹt trong nhà bị cháy có dầu, đồ đạc, bàn ghế,  phim nhựa, polyme… đang bốc cháy thì nạn nhân sẽ hít phải các khí khói độc, đặc biệt là khí oxytcacbon gây hội chứng: tổn thương do hít thở – inhalation injury, gây co thắt thanh môn, phế quản, phù phổi, rối loạn nhịp tim, khó thở, nhức đầu, chóng mặt, đau ngực, co giật… Những trường hợp này phải ưu tiên cấp cứu số 1 và phải được chuyển tới bệnh viện ngay. Phải theo dõi sát nạn nhân và đảm bảo sự thông thoáng đường hô hấp:
+ Đưa bệnh nhân ra nơi thoáng khí
+ Thở oxy nếu cần.
+ Giữ bệnh nhân ở tư thế đứng.
+ Đặt nội khí quản.
+ Mở khí quản nếu nguy cấp.
* Phòng chống nhiễm khuẩn:
Nhiễm khuẩn cũng là 1 vấn đề rất quan trọng đối với nạn nhân bỏng, là 1 trong những yếu tố quyết định thành công trong việc điều trị và chăm sóc bệnh nhân bỏng. Bản thân vết bỏng là vô khuẩn. Do vậy khi cấp cứu bỏng phải rất thận trọng để tránh vết bỏng bị nhiễm bẩn:
+ Không sử dụng nước không sạch để dội, đắp vào vết bỏng trong khi sơ cứu nạn nhân.
+ Không sờ mó vào vết bỏng.
+ Không chọc vỡ các nốt phỏng.
+ Người cán bộ y tế nên rửa sạch tay trước khi sơ cứu vết thương nạn nhân.
+ Nên có các tấm ga hoặc săng vô trùng để quấn, bọc bệnh nhân.
+ Sử dụng thuốc kháng sinh (augmentin, cephalosporin, aminoglycosid).
* Băng bó vết bỏng:
+ Không được bôi dầu, mỡ, dung dịch cồn, kem kháng sinh vào vết bỏng.
+ Không được bóc da hoặc cố bóc mảnh quần áo dính vào vết bỏng.
+ Bỏng độ I không cần băng để hở, độ II có nốt phỏng, độ III có hoại tử ướt cần băng để che chở, chống nhiễm khuẩn, có hoại tử khô không cần băng.
+ Vết bỏng sẽ chảy nhiều dịch nên trước khi dùng băng co giãn để băng vết bỏng lại thì phải đệm một lớp  bông thấm nước lên trên gạc hoặc vải phủ vết bỏng.
+ Nếu bỏng bàn tay thì có thể cho bàn tay vào 1 túi nhựa rồi băng lỏng cổ tay, làm như vậy nạn nhân có thể vẫn cử động được các ngón tay và tránh làm bẩn vết bỏng.
+ Nếu bỏng ở cổ tay hoặc chân thì trước hết phủ vết bỏng bằng gạc vô khuẩn hoặc vải sạch sau đó cho vào túi nhựa. Có thể đặt nẹp cố định chi bị bỏng, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải nâng cao chi bị bỏng để chống sưng nề các ngón, hướng dẫn nạn nhân vận động sớm các ngón chân, ngón tay nếu có thể được để tránh co da, dính khớp.

2. Xử trí và chăm sóc 1 số trường hợp bỏng đặc biệt:

* Bỏng điện : Điện giật trong khi sửa chữa điện nước gây bỏng rất sâu, một số nạn nhân bị bỏng điện kết hợp ngừng tim do tác dụng của dòng điện vào tim. Do vậy phải tiến hành cấp cứu ngừng tim ngay sau đó mới tiến hành cấp cứu vết bỏng. Thứ tự các bước:
+ Ngắt điện.
+ Nếu không ngắt điện được thì phải gỡ nạn nhân ra khỏi sự tiếp xúc với điện (phải dùng vật cách điện: Cao su, gậy gỗ khô để gỡ hoặc kéo nạn nhân).
+ Cấp cứu ngừng tim (nếu có).
+ Sơ cứu vết bỏng.
+ Sau khi sơ cứu vết bỏng xong phải nhanh chóng chuyển nạn nhân đến bệnh viện  để đề phòng những rối loạn về tim mạch.
* Bỏng hoá chất:
+ Rửa ngay và liên tục bằng nước sạch càng nhiều càng tốt (tránh hoại tử các tổ chức bị bỏng). Trừ trường hợp là các hoá chất còn sinh nhiệt khi thực hiện các phản ứng hoá học, khi hút nước như: Acid muriatic, acid sunfuric.
+ Tìm, hỏi để phát hiện tác nhân gây bỏng để có phương pháp xử trí khác nhau:
- Tác nhân gây bỏng là acid: khi rơi vào da nạn nhân có cảm giác cháy xèo da, rát da, nóng ở vùng bị bỏng, gây những đám hoại tử trên da, niêm mạc dưới hình thức các vết màu khô cứng có ranh giới rõ với vùng da lành. Tại các đám hoại tử này cảm giác da và niêm mạc bị mất. Các đám hoại tử màu  thường có hình dạng các giọt nước, các vết mực loang lổ. Rửa vết bỏng bằng nước có pha Bicarbonat, nước vôi loãng hoặc nước xà phòng.
- Tác nhân gây bỏng là do kiềm (base): các tổn thương thường mềm , ướt, màu trắng xám, xuất tiết dịch, có thể thấy có các nốt phỏng, viền các đám da bỏng bị xung huyết và phù sưng. Bỏng nông và bỏng sâu thường xen kẽ. Rửa vết bỏng bằng dấm  ăn dung dịch 0,5 đến 5% hay nước chanh quả.
Nếu bỏng mắt do hoá chất chỉ được rửa bằng nước sạch bình thường. Nếu trong mắt vẫn còn có những hạt vôi nhỏ thì phải rửa mạnh để làm bật những hạt vôi đó ra.
+ Tháo bỏ ngay quần áo bị dính hoá chất (không dùng tay trần để thaó).
+ Nếu vết bỏng chảy nhiều máu thì phải xử trí như đối với vết thương chảy máu.
+ Chuyển ngay nạn nhân tới cơ sở điều trị.
nguồn: "suachuadandung.com"

Sunday, March 3, 2013

Cách cứu người bị đuối nước

Để cứu người chết đuối, chúng ta có 3 giai đoạn : Vớt người; Xóc nước-hô hấp nhân tạo; Ủ ẩm- chống choáng

Chúng ta không ghét lũ lụt (vì có ghét nó thì hàng năm vẫn phải đốidiện với nó), chúng ta cũng không sợ lũ lụt. Mà chúng ta phải tìm cách SỐNG CHUNG VỚI LŨ, đó cũng chính là mô hình mà chính phủ khuyến khích người dân các vùng đồng bằng nên thực hiện.


Xử trí nhanh tại chỗ khi mới vớt ở nước lên:
  • Vác xốc nạn nhân lên vai.
  • Để bụng tỳ đúng vào vai, đầu dốc ngược xuống lưng người vác
  • Chạy tại chỗ khoảng 20-30 bước cho nước ở dạ dày, phổi, đường khí đạo thoát ra, đồng thời cũng có tác dụng như làm hô hấp nhân tạo.
  • Sau đó để nạn nhân nằm đầu thấp, móc sạch đờm rãi, thức ăn, dị vật... thật khẩn trương.
Nguyên tắc:

- Phải giữ thông đường thở
- Kiên nhẫn hồi sinh nạn nhân
- Nếu nạn nhân còn thở và tim còn đập nhưng bất tỉnh: cho thở oxy, thuốc trợ tim mạch, dùng khăn chà xát cho nóng người, tiêm kháng sinh đề phòng viêm phổi.
- Nếu ngừng thở nhưng tim còn đập:
sơ cứu
Ép tim ngoài lồng ngực
Thổi ngạt

Ðặt nội khí quản và thở oxy bằng máy hô hấp hỗ trợ bảo đảm trên 10 lít/phút với nhịp đều khoảng 16-20 lần. Chú ý hút đờm rãi. Dùng thuốc trợ tim mạch và kháng sinh như trên.

- Nếu ngừng thở và ngừng tim: xem Ngừng tuần hoàn hô hấp
- Tiêm thẳng vào tim 1 ống Ouabain 1/4mg

Khi nạn nhân tỉnh: tiêm thuốc trợ tim, giãn phế quản

Giữ thăng bằng nước và điện giải. Chú ý theo dõi tăng gánh và phù phổi cấp. Nếu có toan chuyển hóa cho THAM hoặc dung dịch Bicarbonat.

Cho kháng sinh phòng viêm phổi.

Ủ ấm - Chống choáng :
Khi nạn nhân vào bờ mà còn tỉnh táo, hoặc sau khi xóc nước và làm hô hấp nhân tạo, nạn nhân đã tỉnh lại, hãy thay quần áo khô cho họ, dùng chăn để ủ ấm và cho họ uống trà nóng hay cà phê nóng.

Cách sơ cứu khi bị điện giật

Điện giật có thể gây ngừng thở, ngừng tim, tử vong đột ngột, nên thời gian cấp cứu nạn nhân tại chỗ trong 5 phút đầu được coi là vàng.

  • Nguyên nhân bị điện giật
Tai nạn điện giật thường xảy ra đột ngột, do vô tình hoặc không nắm vững những nguyên tắc đề phòng tai nạn khi sửa chữa bình nóng lạnh, sửa chữa điều hoà hoặc sửa chữa máy bơm, hậu quả là nạn nhân có thể bị bỏng ở các mức độ khác nhau, thậm chí tử vong do ngừng hô hấp và tuần hoàn.
Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do cơ thể người tiếp xúc với hai cực của nguồn điện. Thông thường, chân người tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với đất được coi là một cực, cực còn lại là một bộ phận bất kỳ nào đó của cơ thể tiếp xúc với nguồn điện.
Dòng điện xoay chiều có đặc điểm kích thích mạnh mẽ và liên tục đối với hệ thần kinh và cơ. Nhóm cơ khép và gấp co mạnh hơn nhóm cơ duỗi, nên nạn nhân càng có xu hướng dính chặt vào nguồn điện mà không thể dứt ra được, mặc dù ban đầu vẫn còn biết mình đang bị nạn nhưng không thể điều khiển được các cơ duỗi ra.
  • Những tổn thương do điện giật trong khi sửa chữa điện nước
Nếu dòng điện tác động thẳng tới lồng ngực làm co cứng các cơ hô hấp, hoặc kích thích thần kinh điều khiển chức năng hô hấp ở một vị trí nào đó, áp lực không khí trong phổi tăng lên đột ngột, các phế nang bị vỡ, tổ chức kẽ nhu mô phổi bị phù nề và xung huyết, nạn nhân có thể tử vong do ngạt thở.
Nếu dòng điện tác động vào cơ tim hoặc thần kinh điều khiển hệ tuần hoàn, gây ra tình trạng rung thất, ngừng tim thì tâm trương, nạn nhân có thể tử vong đột ngột mà chưa có biểu hiện tổn thương ở các tạng khác. Đường đi của dòng điện theo kiểu tay trái – chân phải, sẽ rất nguy hiểm vì dòng điện trực tiếp đi qua tim.
Điện giật có thể gây ra tình trạng bỏng hết sức nguy hiểm cho nạn nhân. Khi dòng điện đi qua cơ thể sẽ xuất hiện bỏng ở nhiều vị trí với nhiều mức độ khác nhau. Xương có điện trở cao, khoảng 50Ω nên mức độ bỏng ở xương rất nặng, khó chẩn đoán và khó tiên lượng. Dòng điện cao thế thường gây bỏng sâu và rộng, kèm theo bỏng do phóng tia lửa điện. Dòng điện hạ thế gây bỏng sâu và hẹp, mức độ nhẹ hơn bỏng điện cao thế.
Bỏng điện có thể gây hoại tử và chảy máu thứ phát, bởi vì khi dòng điện đi qua tế bào sẽ gây ra hiện tượng đục lỗ màng tế bào, đồng thời làm rối loạn chuyển hoá các chất trong và ngoài màng tế bào. Chảy máu và hoại tử có thể gây nên hội chứng chèn ép khoang, cần phải phẫu thuật cấp cứu giải phóng chèn ép để tránh hoại tử chi.
  • Cấp cứu nạn nhân bị điện giật
Khi nạn nhân bị điện giật ngừng thở, ngay lập tức phải tiến hành hô hấp nhân tạo tại chỗ, cho đến khi tự thở được hoặc xác định nạn nhân chắc chắn đã chết thì mới dừng lại.
Để nạn nhân nằm ở nơi thoáng đãng, nới rộng quần áo và dây thắt lưng, đệm dưới cổ cho đầu hơi ngửa ra sau để đảm bảo đường hô hấp được thông thoáng. Một tay bịt mũi nạn nhân, tay kia kéo hàm xuống dưới để miệng hở ra, ngậm chặt miệng nạn nhân rồi thổi liên tục 2 hơi đối với người lớn, một hơi đối với trẻ em dưới 8 tuổi, sau đó để lồng ngực tự xẹp xuống rồi lại thổi tiếp.
Người lớn và trẻ em trên 8 tuổi, mỗi phút phải thổi ngạt 20 lần. Trẻ dưới 8 tuổi, mỗi phút phải thổi ngạt từ 20 đến 30 lần. Trẻ sơ sinh hiếm khi bị điện giật, nếu có ngừng thở, phải thổi ngạt từ 30 đến 60 lần một phút.
Khi có ngừng tim, ngay lập tức phải tiến hành cấp cứu nạn nhân tại chỗ bằng cách bóp tim ngoài lồng ngực. Ngừng tim trong vòng 1 phút, khả năng cứu sống có thể tới 95%. Ngừng tim sau 5 phút, khả năng cứu sống chỉ còn 1%, và sẽ để lại di chứng thần kinh rất nặng nề vì tế bào não sẽ bị chết sau 5 phút thiếu Ôxy.
Người tiến hành ép tim ngồi bên trái nạn nhân, hai bàn tay chồng lên nhau rồi để trước tim, tương ứng với núm vú hoặc khoang liên sườn 4 – 5 bên ngực trái, từ từ ấn sâu xuống khoảng từ 1/3 cho đến một nửa bề dày lồng ngực, sau đó nới lỏng tay ra.
Người lớn và trẻ em trên 1 tuổi, số lần ép tim trong một phút khoảng 100 lần. Trẻ dưới 1 tuổi, mỗi phút ép tim hơn 100 lần. Trẻ sơ sinh có thể phải ép tim đến 120 lần mỗi phút.
Nếu phải kết hợp cả ép tim với thổi ngạt, cứ 5 lần ép tim lại thổi ngạt một lần, ngoại trừ trẻ sơ sinh là 3 lần ép tim thổi ngạt một lần.
Theo VietBao

Like và +1 để ủng hộ

 

© 2013 Blog Tổng Hợp. All rights resevered. Designed by Templateism

Back To Top