Saturday, March 16, 2013

Xin lỗi...anh chỉ là thằng bán bánh giò!!!

"Chuyện tình bánh giò" xúc động cư dân mạng

PNO - "Xin lỗi, anh chỉ là thằng bán bánh giò!", bộ phim tốt nghiệp của một sinh viên Đại học Sân khấu - Điện ảnh TP.HCM đến sáng 17/3 đã đạt hơn 1,1 triệu lượt xem trên Youtube.
"Xin lỗi, anh chỉ là thằng bán bánh giò!"
Nội dung bộ phim dài 25 phút này nhanh chóng được cư dân mạng chia sẻ qua các mạng xã hội. Chuyện tình "bánh giò - bánh tráng" qua cách kể chuyện của đạo diễn Phạm Việt Phước hiện lên trong trẻo, giản dị, gần gũi mà cũng đầy lý tưởng. Nam (Võ Đình Hiếu), chàng trai nghèo khó bán bánh giò yêu Vy (Nhã Phương) - cô gái bán bánh tráng nhà cũng không khá giả. "Con tao đẹp vậy phải để gả Tây gả Tàu!", mẹ Vy (Kim Khánh) kiên quyết phản đối mối tình thơ trẻ ấy. Nam dù "không có một cái áo liền vai, một đôi dép liền đế" song những gì anh trao cho Vy không chỉ trọn vẹn một trái tim mà còn là số tiền cứu mạng sống của mình...
Diễn xuất chân thật, các góc quay giàu sức gợi và tung ra gần thời điểm Valentine trắng... phần nào lý giải sức hút từ phim ngắn trên. Được biết đạo diễn Phạm Việt Phước (nghệ danh Lộc Phạm), con trai cố NSND Phạm Khắc, đã từng cầm camera 10 năm tại TFS trước khi học đạo diễn. Để đầu tư công phu cho tác phẩm tốt nghiệp, anh đã dốc túi hết 40 triệu đồng, chưa kể hỗ trợ từ bạn bè, người quen...
"Xin lỗi, anh chỉ là thằng bán bánh giò!" vẫn vướng một số sạn trong tiểu tiết. Chuyển thể kịch bản từ truyện ngắn thuộc dạng "ngôn tình" trên mạng, chuyện phim phần nào cũng cường điệu và sướt mướt hoá bi kịch... Nhưng thời nào cũng thế, dường như người ta luôn cần những câu chuyện lấy nước mắt như vậy để nuôi dưỡng giấc mơ và niềm tin vào một tình yêu cổ tích, nhất là trong buổi kim tiền, dục tính lên ngôi. Khi các bạn trẻ đang say mê với phim truyền hình tình cảm - thần tượng Đài Loan, Hàn Quốc, chúng ta thực sự cần một kịch bản, một cách làm phim như thế áp dụng cho truyền hình, để kéo khán giả lại với màn ảnh nhỏ Việt khóc cười cùng bánh giò, bánh tráng Việt Nam thay vì kim chi, cơm trộn...
ÁI NGUYÊN

Thursday, February 28, 2013

Chó Hy sinh tính mạng để cứu chủ

Đám trẻ con nhà Fronteras coi chú chó của chúng là “Anh Hai”, và vào một ngày nọ, chú chó đã chứng minh điều đó, nó hy sinh thân mình để bảo vệ gia đình.

Chief hy sinh để cứu chủ mình khi cố cắn chết một con rắn hổ mang.

Ngày thứ 2, 12/2/2007, khoảng 2h chiều. Chú chó Chief giống American Pit Bull Terrier, đã cứu bà cụ 87 tuổi Liberata la Victoria, và cháu của bà là Maria Victoria Fronteras, thoát chết khỏi một con rắn hổ mang chui vào nhà qua một lối cửa mở ở dưới bếp.

Liberata la Victoria và Chief đang xem TV thì bỗng nhiên Chief nhảy dựng lên và báo động cho bà cụ biết về sự xuất hiện của một con rắn hổ mang cách đó độ 3 thước. Maria Victoria vội vàng chạy tới và đẩy bà cụ vào một căn phòng và hy vọng con rắn sẽ bỏ đi.

Nhưng khi Victoria quay lại thì cô hoảng sợ nhìn thấy con rắn chỉ còn cách khoảng chưa đầy 1 thước, nó bạnh mang ra và chuẩn bị tấn công. Cô hét lên để cầu cứu.

Đúng lúc đó thì Chief lao vào giữa con rắn và 2 người phụ nữ, lấy thân mình để che chở 2 người khỏi cú mổ chết người của con rắn. Sau đó nó cắn cổ con rắn, quật ra sàn và giết chết nó.

Nhưng chiến thắng của Chief đã phải trả một cái giá quá đắt. Nó đã bị con rắn mổ vài nhát vào mõm và không lâu sau đó, nó đã trút hơi thở cuối cùng.

Gia đình Fronteras đã cố gọi BSTY, nhưng người ta đã không thể làm được gì để cứu Chief. Vết rắn cắn quá gần não và nọc độc đã phát tán quá nhanh.

Ian De la Rama, một người bạn của gia đình Fronteras đã kể lại: “Chỉ chưa đầy 30 phút từ khi bị con rắn cắn, Chief đã bất tỉnh và mất khả năng kiểm soát cơ thể của nó, nhưng nó vẫn cố chống trả lại Thần Chết để được nhìn thấy chủ nó một lần cuối.”

Chồng của Victoria, tên là Marlone, đã vội vã cấp tốc trở về nhà khi nghe hung tin từ vợ anh. Điều cuối cùng mà Chief làm là đưa ánh mắt nhìn lên Marlone và vẫy đuôi. Nó thở dài lần cuối và vĩnh viễn từ giã cõi đời.
nguồn: me.zing

Saturday, December 8, 2012

Bài báo khiến 1 tỷ người rơi lệ !!

"Con đã từng đến trong đời này, và con rất ngoan! "Đấy là lời nói cuối cùng của một em bé tám tuổi, và được khắc lại trên bia mộ em.

"Con đã từng đi qua cuộc đời này! Và con rất ngoan!"

Cô bé Xa Diễm tám tuổi, đôi mắt đen lóng lánh và một trái tim thơ ngây non nớt, Xa Diễm mồ côi, cô bé chỉ sống trên đời vẻn vẹn 8 năm, câu cuối cùng cô nói là một lời thanh minh non nớt: "Con đã từng được sống! Và con rất ngoan!". Xa Diễm hy vọng được chết vào mùa thu. Thân thể gầy gò của em giống một bông hoa nở theo mùa. Khi hoa vàng nở khắp mặt đất và những chiếc lá rơi chao liệng khắp nơi, em sẽ thấy cả những đàn nhạn di cư bay ngang trời xa.
Em tự nguyện bỏ điều trị, và dùng toàn bộ 540 nghìn Nhân dân tệ (gần 1,1 tỷ đồng tiền VN) để chia thành 7 phần, mang sinh mệnh chính mình chia ra thành những phần bánh hy vọng tặng cho bảy người bạn nhỏ đang chiến đấu giữa lằn ranh của sự sống và cái chết khác.
"Tôi tình nguyện từ bỏ điều trị"
Xa Diễm không biết ai là cha đẻ của mình, em chỉ có "cha" là người thu nhận em về nuôi nấng.
Ngày 30/11/1996 (20/10 âm lịch), "cha" Xa Sĩ Hữu phát hiện một hài nhi mới sinh bị vứt bỏ đang thoi thóp và lạnh toát trong đống cỏ bên chân một cây cầu nhỏ ở thị trấn Vĩnh Hưng, ngực hài nhi cài một mẩu giấy nhỏ, chỉ ghi vắn tắt "20 tháng 10, 12 giờ đêm".
Khi đó, cha Xa Sĩ Hữu tròn 30 tuổi, nhà ở tổ 2, thôn Vân Nha, thị trấn Tam Tinh, huyện Song Lưu, tỉnh Tứ Xuyên. Vì nhà nghèo quá, không cưới được vợ, nếu cha nhận nuôi thêm đứa trẻ này, có lẽ càng chẳng báo giờ có cô nào chịu lấy cha nữa. Vì vậy, nhìn đứa trẻ còi như con mèo bé vừa khóc vừa ngáp ngáp thút thít, Xa Sĩ Hữu mấy lần nhặt lên rồi lại đặt xuống, bỏ đi rồi lại ngoái lại nhìn, đứa bé thân mình đầy bùn đất lạnh, tiếng khóc yếu ớt, nếu không ai cứu, chả mấy mà đứt sinh mệnh! Cắn răng, anh ôm đứa bé lên lần nữa, thở dài nói: "Thôi thì tao ăn gì, mày ăn nấy!".



Xa Sĩ Hữu đặt tên cho đứa bé là Xa Diễm, vì bé sinh ra vào mùa thu, đúng mùa thu hoạch mùa màng hoa trái đủ đầy. Đàn ông một mình làm bố, không có sữa mẹ, cũng không có tiền mua sữa bột, đành bón con những thìa cháo hoa. Vì thế, Xa Diễm từ nhỏ đã còi cọc, yếu đuối, lắm bệnh, nhưng là một đứa trẻ vô cùng ngoan và hiểu biết. Xuân đi xuân lại, Xa Diễm như bông hoa nhỏ trên dây Khổ Đằng, lớn khôn dần, vô cùng thông minh và ngoan ngoãn.
Hàng xóm đều nói, những đứa trẻ bị bỏ rơi được nhặt về nuôi, bao giờ trí óc cũng khôn ngoan thông minh hơn người. Và mọi người đều yêu Xa Diễm. Dù em từ nhỏ đã hay bệnh tật liên miên, nhưng trong sự nâng niu xót thương của cha, em cũng lớn lên dần.
Những đứa trẻ số phận đau khổ thường khác người. Từ lúc 5 tuổi, em rất biết ý thức giúp cha làm việc nhà, giặt giũ quần áo, nấu cơm, cắt cỏ em đều biết làm thành thạo. Em biết thân phận mình không được như những đứa trẻ con nhà người khác, trẻ con hàng xóm có bố có mẹ, nhà mình chỉ có cha. Gia đình nhỏ này do hai bố con lụi hụi chống đỡ xây đắp, em cần phải thật ngoan thật ngoan, không để cha lo lắng thêm chút nào, hoặc giận em một lần nào.
Vào học lớp Một, Xa Diệm biết mình phải cố gắng. Em xếp thứ Nhất trong lớp, làm người cha mù chữ của mình cũng mở mày mở mặt với làng xóm. Em chưa bao giờ để cha phải thất vọng. Em hát cho cha nghe, kể những chuyện vui vẻ ở trường cho cha nghe, những phiếu bé ngoan hay hoa điểm tốt em đều dán lên vách tường. Đôi khi em bướng bỉnh ra những đề bài khó để bắt cha phải giải được... Mỗi lúc nhìn thấy cha cười, em đều vui sướng.
Du con không có mẹ, nhưng con có thể sống vui vẻ cùng cha, đó là hạnh phúc!
Lần đầu tiên trong đời được uống sữa, ảnh chụp sau khi Xa Diễm quay lại bệnh viện với số tiền được quyên góp giúp đỡ.Tháng 5/2005, Xa Diễm thường bị chảy máu cam. Một buổi sáng ngủ dậy định rửa mặt, đột ngột em phát hiện cả chậu nước rửa mặt đã biến thành màu hồng. Nhìn kỹ, là máu mũi đang nhỏ giọt xuống, không cầm máu được. Không còn cách nào khác, Xa Sĩ Hữu mang con đi tiêm ở bệnh xá địa phương, nhưng không ngờ, một vết mũi tiêm bé tí xíu cũng chảy máu mãi không ngừng. Trên đùi Xa Diễm cũng xuất hiện nhiều "Vết châm kim đỏ". Bác sĩ nói, "Mau lên bệnh viện khám ngay!", đến được bệnh viện Thành Đô, đúng lúc bệnh viện đang đông người cấp cứu, Xa Diễm không lấy được số thứ tự xếp hàng khám. Xa Diễm ngồi một mình ngoài ghế dài, tay bịt mũi, hai đường máu chảy thành hàng dọc từ mũi xuống, nhuộm hồng cả nền nhà, cha em cảm thấy ngại ngùng, chỉ biết lấy cái bô đựng nước tiểu để hứng máu, chỉ mười phút, cái bô đã lưng nửa.
Bác sĩ phát hiện ra, vội cuống quýt ôm Xa Diễm đi khám. Sau khi kiểm tra, bác sĩ ngay lập tức viết đơn Thông báo khẩn cấp bệnh tình của em. Xa Diễm mắc bệnh máu trắng (Bạch cầu cấp - acute leucimia).
Chi phí điều trị căn bệnh này vô cùng đắt đỏ, thông thường điều trị cơ bản đã cần 300 nghìn Nhân dân tệ (tương đương 600 triệu VND), Xa Sĩ Hữu choáng váng.
Nhìn con gái nằm trên giường bệnh, ông không thể chần chừ suy nghĩ nữa, ông chỉ có một ý nghĩ: Cứu con!
Vay khắp bạn bè họ hàng, chạy đông chạy tây tiền chỉ như muối bỏ biển, so với số 300 nghìn tệ cần có sao xa vời. Ông quyết định bán cái duy nhất có thể ra tiền là căn nhà xây bằng gạch mộc, gạch chưa nung của mình. Nhưng nhà thì quá rách nát, lúc đó không thể tìm ra ai muốn mua nó.
Nhìn gương mặt gầy gò xơ xác và đôi mắt u uất của cha, Xa Diễm có một cảm giác đau xót. Một lần, Xa Diễm kéo tay cha lại, chưa nói nhưng nước mắt đã trào ra: 'Cha ơi, con muốn được chết..."
Đôi mắt Xa Sĩ Hữu kinh ngạc nhìn con gái: "Con mới 8 tuổi thôi, vì sao con lại muốn chết?"
"Con chỉ là đứa bé bị bỏ rơi nhặt về, ai cũng bảo số con bạc bẽo, giờ bệnh này không chữa được, cha cho con ra viện đi..."
Ngày 18/5, bệnh nhân tám tuổi Xa Diễm thay mặt người cha mù chữ, tự ký rành rọt tên vào trong cuốn bệnh án của chính mình: "Tự nguyện từ bỏ chữa trị cho Xa Diễm".

"Em tự nguyện từ bỏ!"
Đứa trẻ tám tuổi tự lo hậu sự:
"Hôm đó về nhà, một đứa trẻ từ nhỏ đến lớn chưa từng vòi vĩnh cha bất cứ điều gì, đã đòi cha hai yêu cầu: Em muốn có một tấm áo mới, và em muốn được chụp một bức ảnh. Em giải thích cho cha: "Sau này, khi con không còn nữa, nếu cha nhớ con, cha có thể nhìn con ở trong ảnh".
Ngày hôm sau, cha Xa Sĩ Hữu nhờ người cô đi cùng đưa cháu lên thị trấn, tiêu hết 30 tệ (60.000 VNĐ) mua một bộ quần áo mới, Xa Diễm tự mình chọn một chiếc quần cộc màu hồng phấn, người cô chọn cho Xa Diễm một chiếc váy trắng chấm đỏ, nhưng khi mặc thử Xa Diễm mặc thử, thấy tiếc rẻ nên lại cởi ra. Ba người đi đến tiệm chụp ảnh, Xa Diễm mặc bộ đồ màu hồng mới tinh, ngón tay đưa ra hình chữ V, cố gắng mỉm cười, nhưng cuối cùng cũng không kìm được để nước mắt chảy ra.
Em đã không thể đến trường nữa, em xách cái cặp đứng trên con đường nhỏ đầu làng, mắt ươn ướt.
Nếu không có một phóng viên tên là Truyền Diễm của tờ "Thành Đô buổi chiều", thì chắc Xa Diễm sẽ chỉ như một phiến lá cây khô rụng xuống, lẳng lặng bị cuốn đi theo gió.
Cô phóng viên này sau khi biết tin từ bệnh viện, đã viết một bài báo, kể lại toàn bộ câu chuyện của Xa Diễm. Sau khi bài báo "Đứa trẻ 8 tuổi tự lo hậu sự" được đăng, cả thành phố Thành Đô đều bị cảm động, cả mạng Internet toàn Trung Quốc cũng cảm động, có một phong trào lan truyền trên khắp Trung Quốc, trong cả đời sống thật của thế giới người Hoa lẫn trên mạng ảo, những người có lòng tốt bắt đầu quyên góp để cứu sinh mệnh mong manh của cô bé. Trong vòng mười ngày, con số quyên góp từ toàn thể người Hoa đã lên tới 560 nghìn Nhân dân tệ, đủ để chi phí phẫu thuật, và hy vọng cuộc sống của Xa Diễm lại được thổi bùng lên từ bao nhiêu trái tim nhân ái. Sau khi tuyên bố kết thúc quyên góp, vẫn còn nhiều khoản tiền chuyển về tài khoản quyên góp. Các bác sĩ cũng cố sức, dốc hết sức lực và tài năng chuyên môn để cứu chữa cho Xa Diễm, tất cả hàng triệu người đều hy vọng thành công.
Tờ "Thành Đô buổi chiều" có đăng bài về emTrên internet, nhiều lời nhắn gửi: "Xa Diễm, cô bé yêu quý của tôi, tôi hy vọng em sớm mạnh khoẻ rời bệnh viện, tôi cầu chúc cho em quay lại trường học, tôi mong mỏi em bình an lớn lên, tôi khao khát tôi sẽ được vui sướng tiễn em về nhà chồng..."
Ngày 21/6, Xa Diễm, cô bé đã từ bỏ trị liệu quay về nhà chờ thần Chết, đã lại được đưa về Thành Đô, vào bệnh viện Nhi. Tiền có rồi, sinh mệnh mỏng manh có hy vọng và có lý do để tiếp tục được sống.


Nhập viện lần thứ hai sau khi có tiền quyên góp, trong bộ quần áo mới cuối cùng
Xa Diễm chịu đựng đợt hoá trị khó chịu. Trong cửa kính, Xa Diễm nằm trên giường truyền dịch, đầu giường đặt một chiếc ghế, ghế để một cái âu nhựa, thỉnh thoảng em quay người sang đó nôn. Sự kiên cường cửa đứa bé khiến người lớn cũng kinh ngạc. Bác sĩ Từ Minh, người điều trị chính cho em giải thích, giai đoạn hoá trị, đường ruột và dạ dầy sẽ phản ứng kích liệt, thời gian đầu mới hoá trị, mỗi lần Xa Diệm nôn đều nhiều, nửa âu, nhưng đến "ho" một tiếng cũng không. Trong lúc kiểm tra tuỷ xương khi nhập viện, mũi tiêm đâm từ ngực, em "không khóc, không kêu la, cũng không chảy nước mắt, đến động đậy cũng không dám".
Từ khi ra đời cho tới lúc chết, em không có được một chút xíu tình yêu của mẹ. Khi bác sĩ Từ Minh đề nghị: "Xa Diễm, làm con gái bác đi!" mắt em sáng rực lên, rồi nước mắt tuôn xuống xối xả. Ngày hôm sau, khi bác sĩ đến đầu giường bệnh, Xa Diễm bẽn lẽn gọi: "Mẹ!". Bác sĩ lặng đi một chút, rồi từ từ mỉm cười, ngọt ngào đáp lại: "Con gái, ngoan lắm!"
Tất cả mọi người đều chờ đợi một phép lạ, tất cả đều hy vọng giây phút Xa Diễm được trở về với cuộc sống. Rất nhiều người từ thành phố vào bệnh viện thăm em, trên mạng nhiều người hỏi thăm em, số mệnh của Xa Diễm làm mạng Internet xa lạ trở nên đầy ắp ánh sáng.
Trong phòng bệnh đầy hoa và trái cây, tràn đầy hương thơm.


Sau khi Xa Diễm mất, ông bố cũng không giữ lại đồng quyên góp nàoHai tháng hoá trị, Xa Diễm qua được chín cửa "Quỷ môn quan", sốc nhiễm trùng, bệnh bại huyết septicemia, tan máu, xuất huyết ồ ạt đường tiêu hoá... lần nào cũng "hung hoá cát". Những liệu trình đều do các bác sĩ huyết học Nhi hàng đầu của tỉnh và Trung Quốc chuẩn đoán quyết định, hiệu quả rất khả quan. Bệnh máu trắng căn bản đã được khống chế. Tất cả đang chờ tin Xa Diễm lành bệnh.
Nhưng những bệnh tật đi theo những tác dụng phụ của hoá chất trị liệu rất đáng sợ. Và so với hầu hết những đứa trẻ bị bệnh máu trắng khác, thể chất Xa Diễm rất yếu ớt. Sau đợt phẫu thuật, sức khoẻ Xa Diễm càng kém.
Buổi sáng ngày 20/8, em hỏi phóng viên Truyền Diễm: "Dì ơi, xin dì cho con biết, vì sao mọi người quyên góp tiền cho con?"
"Bởi vì họ đều có lòng tốt!"
"Dì ơi, con cũng làm người tốt."
"Bản thân con đã là một người tốt. Những người tốt sẽ giúp đỡ nhau, mới làm nên những điều càng thiện lương."
Xa Diễm móc từ dưới gối ra một cuốn vở bài tập, đưa cho Truyền Diễm: "Dì ơi, đây là di chúc của con..."
Phóng viên Truyền Diễm kinh ngạc, vội vã mở vở ra, quả nhiên là những việc Xa Diễm thu xếp hậu sự. Đây là một đứa trẻ tám tuổi sắp về cõi chết, nằm bò trên giường bệnh dùng bút chì nắn nót viết ba trang "Di chúc". Vì em còn nhỏ quá, còn nhiều chữ Hán chưa học nên chưa viết được hết, còn có những chữ viết sai. Xem có thể biết em không thể viết một mạch bức thư này, mà viết sáu đoạn. Mở đầu là "Dì Truyền Diễm", kết thúc là "Tạm biệt dì Truyền Diễm". Suốt cả bức thư, chữ "Dì Truyền Diễm" xuất hiện 7 lần, và 9 lần gọi tắt là Dì. Phía sau 16 chữ xưng hô này, tất cả là những điều "nhờ vả dì làm hộ" khi em lìa đời. Và còn cả lời muốn qua phóng viên "cảm ơn" và "tạm biệt" với cả thế giới.
"Tạm biệt dì, chúng ta sẽ gặp nhau trong mơ. Dì Truyền Diễm, nhà cha con sắp sập rồi. Cha đừng buồn, xin cha cũng đừng nhảy lầu. Dì Truyền Diễm xin dì trông coi bố con. Dì ơi, cái tiền của con cho trường con một ít ít, cảm ơn dì chuyển lời cảm tạ tới Hội trưởng Hội Hồng thập tự. Con chết xong, mang hết chỗ tiền còn lại chia ra cho những người mắc bệnh giống con, giúp họ đỡ bị bệnh hơn..."
Bức di chúc làm Truyền Diễm giàn giụa nước mắt, khóc không thành tiếng.
Con đã từng được sống, con rất ngoan
Ngày 22/8, vì đường tiêu hoá xuất huyết, dường như suốt một tháng trời Xa Diễm không được ăn mà chỉ sống bằng dịch truyền. Và lần đầu tiên em "ăn vụng", em bẻ một mẩu nhỏ mì ăn liền khô bỏ vào mồm. Ngay lập tức đường ruột của em xuất huyết nghiêm trọng, bác sĩ y tá khẩn cấp truyền máu, truyền dịch cho em...
Nhìn Xa Diễm đau bụng lăn lộn, bác sĩ và y tá đều bật khóc. Tất cả mọi người đều muốn gánh đau cho em, nhưng, không thể làm gì được.
Tám tuổi. Xa Diễm đã thoát được cơn bệnh tật quái ác, và ra đi an lành.
Không ai chấp nhận sự thật. Phóng viên Truyền Diễm vuốt vuốt gương mặt bé xíu lạnh dần đi của cô bé, khóc không thành tiếng, gương mặt sẽ không bao giờ gọi cô là Dì nữa, cũng sẽ không bao giờ cười nữa.
Mạng TứXuyênonline , mạng 163 (mạng Internet nổi tiếng nhất TQ) ngập trong nước mắt, mạng Xinhuanet toàn nước mắt. "Đau lòng đến không thể thở được" sau đầu đề topic đó là hàng vạn lời nhắn cảm xúc của các công dân mạng TQ. Hoa viếng, điếu văn, một người đàn ông trung niên khẽ nói: "Con, con vốn là một thiên sứ nhỏ trên trời, con đã dang đôi cánh, thôi con cứ ngoan ngoãn bay đi.."
Ngày 26/8, tang lễ diễn ra dưới một cơn mưa nhỏ, Nhà tang lễ ở ngoại thành phía Đông của thành phố Thành Đô chật ních những người dân Thành Đô đi viếng với nước mắt rưng rưng. Họ đều là những "người cha, người mẹ" của Xa Diễm mà Xa Diễm chưa có dịp gặp mặt. Để đứa bé mới sinh ra đời đã bị vứt bỏ, đã mắc bệnh máu trắng, đã từ bỏ chữa trị, đã chết... không còn cô đơn nữa. Rất nhiều "Cha-mẹ" đội mưa tiễn theo sau chiếc quan tài bé nhỏ.
Bức ảnh trên đầu Entry trong blog Trang Hạ đã chụp bia mộ của Xa Diễm: Một bức ảnh Xa Diễm cười mím mím, tay cầm một bông hoa dại bé xíu. Mặt chính của bia chỉ ghi vỏn vẹn: " Con đã từng được sống, con rất ngoan! (1996.11.30-2005-8.22)"
Mặt sau bia có ghi vài lời đơn giản giới thiệu thân thế Xa Diễm, câu cuối cùng là: "Trong những năm Em sống, Em đã được nhận những ấm áp của con người. Xin Em yên nghỉ, thiên đường có Em nên thiên đường càng đẹp đẽ."
Theo đúng chúc thư, 540.000 Nhân dân tệ còn thừa lại chia thành những tặng vật chia cho những em bé khác bị mắc bệnh máu trắng. Bệnh viện còn ghi lại tên của 7 bệnh nhân Nhi này, Dương Tâm Lâm, Từ Lê, Hoàng Chí Cường, Lưu Linh Lộ, Trương Vũ Tiệp, Cao Kiện, Vương Kiệt. Những bệnh nhân này lớn nhất là 19 tuổi, nhỏ nhất là 2 tuổi, đều là những em gia đình quá nghèo, đang giãy dụa giữa sự sống và cái chết.
Ngày 24/9, ca phẫu thuật đầu tiên thành công dành cho bệnh nhân được nhận viện phí từ Xa Diễm, là cô bé Từ Lê ở bệnh viện Hoa Tây. Sau phẫu thuật, Từ Lê mỉm cười với gương mặt trắng xanh, nói: "Xa Diễm, hay yên nghỉ, về sau này, bia mộ của chúng tôi cũng sẽ ghi thêm một dòng như nhau: "Tôi đã từng đến trong đời này, và tôi rất ngoan!"

Bài học cảm động từ một cậu bé 9 tuổi ở Nhật

(Dân trí) - “Một câu chuyện cảm động về cậu bé 9 tuổi ở Nhật đã dạy cho tôi bài học làm người trong lúc khốn khó nhất.”
Một bé trai tại thành phố Sendai, tỉnh Miyagy, chờ lấy nước sôi để ăn mỳ.
 
Dưới đây là bài viết cảm động một độc giả đã gửi báo Dân trí về cách ứng xử tuyệt vời trong cơn hoạn nạn ở Nhật của một cậu bé mới 9 tuổi.
 
Tối hôm qua tôi được phái tới một trường tiểu học phụ giúp hội tự trị ở đó phân phát thực phẩm cho những người bị nạn. Trong cái hàng rồng rắn những người xếp hàng tôi chú ý đến một em nhỏ chừng 9 tuổi, trên người chỉ có chiếc áo thun và quần đùi. Trời rất lạnh mà em lại xếp hàng cuối cùng, tôi sợ đến lượt của em thì chắc chẳng còn thức ăn nên mới lại hỏi thăm.
 
Em kể khi đang học ở trường trong giờ thể dục thì động đất và sóng thần đến, cha của em làm việc gần đó đã chạy đến trường, từ ban công lầu 3 của trường em nhìn thấy chiếc xe và cha bị nước cuốn trôi, nhiều khả năng đã chết.
 
Hỏi mẹ đâu, em nói nhà em nằm ngay bờ biển, mẹ và em em chắc cũng không chạy kịp. Thằng nhỏ quay người lau vội dòng nước mắt khi nghe hỏi đến thân nhân.
 
Nhìn thấy em nhỏ lạnh, tôi mới cởi cái áo khoác cảnh sát trùm lên người em nhỏ. Vô tình bao lương khô khẩu phần ăn tối của tôi bị rơi ra ngoài, tôi nhặt lên đưa cho em và nói: "Đợi tới phiên của con chắc hết thức ăn, khẩu phần của chú đó, chú ăn rồi, con ăn đi cho đỡ đói". Cậu bé nhận túi lương khô của tôi, khom người cảm ơn. Tôi tưởng em sẽ ăn ngấu nghiến ngay lúc đó nhưng không phải, cậu bé ôm bao lương khô đi thẳng lên chỗ những người đang phát thực phẩm và để bao lương khô vào thùng thực phẩm đang phân phát rồi lại quay lại xếp hàng.
 
Ngạc nhiên vô cùng, tôi hỏi tại sao con không ăn mà lại đem bỏ vào đó. Cậu bé trả lời: "Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ".
 
Tôi nghe xong vội quay mặt đi chỗ khác khóc, để mọi người không nhìn thấy. Thật cảm động. Không ngờ một đứa nhỏ 9 tuổi mới học lớp 3 đã có thể dạy tôi một bài học làm người trong lúc khốn khó nhất. Một bài học vô cùng cảm động về sự hy sinh. Một dân tộc với những đứa trẻ 9 tuổi đã biết nhẫn nại, chịu gian khổ và chấp nhận hy sinh cho người khác chắc chắn là một dân tộc vĩ đại.
 
Đất nước này đang đứng ở trong những giờ phút nguy cấp nhất của sự điêu tàn, nhưng chắc chắn nó sẽ hồi sinh mạnh hơn nhờ những công dân biết hy sinh bản thân ngay từ tuổi niên thiếu.
Bài viết gửi từ địa chỉ lemac@yahoo.com

Bài văn gây xôn xao dư luận

Trong buổi lễ chào cờ đầu tuần vào sáng thứ hai vừa qua (6/11), thầy giáo Lê Trần Bân, phó hiệu trưởng Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng (TP Vinh, Nghệ An) đã đứng dưới cờ phát biểu cảm nghĩ và đọc bài văn của em Nguyễn Thị Hậu, cả sân trường xúc động lặng im...
“Thầy Bân đọc được nửa bài văn quá xúc động nghẹn lời, ngân ngấn nước mắt. Chúng tôi đều rưng rưng, mến phục thương em Hậu và thôi thúc chúng tôi sống và giảng dạy tốt hơn. Từ nay vào các buổi lễ chào cờ đầu tuần chúng tôi chọn lọc những đề văn và bài làm hay đọc dưới cờ để nhân lên sự yêu thích văn chương của học sinh” - thầy Võ Tuấn Thiện, hiệu trưởng Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, cho biết.
Ngay sau đó từ học sinh, giáo viên các trường trên địa bàn TP Vinh cho đến bà bán nước bác xe ôm đã photo bài văn, chuyền tay nhau đọc. Cứ thế bài văn nhân thêm nhiều bản, và chuyền về tận các huyện...
Nguyễn Thị Hậu là học sinh chuyên Toán lớp 10A2 Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, TP Vinh, Nghệ An. Em chỉ có 45 phút ngồi trên lớp học để viết lên bài văn này nhưng bài văn với gần 1.500 từ trên bốn trang giấy kiểm tra, trước khi đến tay cô giáo, đã ướt nhoè nước mắt em.
Bóng dáng người bố yêu thương hiện lên trang văn, người đọc đường như thấy một chút bóng dáng người bố thân yêu của mình và thôi thúc nuôi dưỡng ước mơ và thúc giục sống tốt hơn.
Bài làm văn của em đã viết lên cảm nghĩ chân thực về người cha thân yêu làm nghề xe lai, nhưng bị căn bệnh quật ngã ra đi, khá xúc động.
Chúng tôi xin đăng tải toàn bộ bài văn của em Hậu, để bạn đọc cùng thưởng thức.
Đề bài: “Em hãy phát biểu cảm nghĩ về một người thân yêu nhất”
Bài làm:
Trong cuộc sống hàng ngày, có biết bao nhiêu người đáng để chúng ta thương yêu và dành nhiều tình cảm. Nhưng đã bao giờ bạn nghĩ rằng, người thân yêu nhất của bạn là ai chưa? Với mọi người câu trả lời ấy có thể là ông bà, là mẹ, là anh chị hoặc cũng có thể là bạn bè chẳng hạn. Còn riêng tôi, hình ảnh người bố sẽ mãi mãi là ngọn lửa thiêng liêng, sưởi ấm tâm hồn tôi mãi tận sau này.
Bố tôi không may mắn như những người đàn ông khác. Trong suốt cuộc đời bố có lẽ không bao giờ được sống trong sự sung sướng, vui vẻ. Bốn mươi tuổi khi chưa đi được nửa chặng đời người, bố đã phải sống chung với bao nhiêu bệnh tật: Đầu tiên đó chỉ là những cơn đau dạ dày, rồi tiếp đến lại xuất hiện thêm nhiều biến chứng. Trước đây, khi còn khỏe mạnh, bao giờ bố cũng rất phong độ.
Thế nhưng bây giờ, vẻ đẹp ấy dường như đã dần đổi thay: Thay vì những cánh tay cuồn cuộn bắp, giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo teo. Đôi mắt sâu dưới hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dần nổi lên trên khuôn mặt sạm đen vì sương gió. Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của bố, bố luôn là một người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình.
Gia đình tôi không khá giả, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng tiền bố mẹ kiếm được hàng ngày. Dù bệnh tật, ốm đau nhưng bố chưa bao giờ chịu đầu hàng số mệnh. Bố cố gắng vượt lên những cơn đau quằn quại để làm yên lòng mọi người trong gia đình, cố gắng kiếm tiền bằng sức lao động của mình từ nghề xe lai.
Hàng ngày, bố phải đi làm từ khi sáng sớm cho tới lúc mặt trời đã ngả bóng từ lâu. Mái tóc bố đã dần bạc đi trong sương sớm. Công việc ấy rất dễ dàng với những người bình thường nhưng với bố nó rất khó khăn và gian khổ. Bây giờ có những lúc phải chở khách đi đường xa, đường xóc thì những cơn đau dạ dạy của bố lại tái phát.
Và cả những ngày thời tiết thay đổi, có những trưa hè nắng to nhiệt độ tới 38-40 độ C, hay những ngày mưa ngâu rả rích cả tháng 7, tháng 8, rồi cả những tối mùa đông lạnh giá, bố vẫn cố gắng đứng dưới những bóng cây kia mong khách qua đường. Tôi luôn tự hào và hãnh diện với mọi người khi có được một người bố giàu đức hy sinh, chịu thương, chịu khó như vậy.
Nhưng có phải đâu như vậy là xong. Mỗi ngày bố đứng như vậy thì khi trở về những cơn đau quằn quại lại hành hạ bố. Nhìn khuôn mặt bố nhăn nhó lại, những cơn đau vật vã mà bố phải chịu đựng, tôi chỉ biết òa lên mà khóc. Nhìn thấy bố như vậy, lòng tôi như quặn đau hơn gấp trăm ngàn lần. Bố ơi, giá như con có thể mang những cơn đau đó vào mình thay cho bố, giá như con có thể giúp bố kiếm tiền thì hay biết mấy? Nếu làm được gì cho bố vào lúc này để bố được vui hơn, con sẽ làm tất cả, bố hãy nói cho con được không?
Những lúc ấy, tôi chỉ biết ôm bố, xoa dầu cho bố, tôi chỉ muốn với bố đừng đi làm nữa, tôi có thể nghỉ học, như vậy sẽ tiết kiệm được chi tiêu cho gia đình, tôi có thể kiếm được tiền và chữa bệnh cho bố. Nhưng nếu nhắc đến điều đó chắc chắn là bố sẽ buồn và thất vọng ở tôi nhiều lắm.
Bố luôn nói rằng bố sẽ luôn chiến đấu. Chiến đấu cho tới những chút sức lực cuối cùng để có thể nuôi chúng tôi ăn học thành người. Bố rất quan tâm đến việc học của chúng tôi. Ngày xưa bố học rất giỏi nhưng nhà nghèo bố phải nghỉ học. Vào mỗi tối, khi còn cố gắng đi lại được, bố luôn bày dạy cho mấy chị em học bài.
Trong những bữa cơm bố thường nhắc chúng tôi cách sống, cách làm người sao cho phải đạo. Tôi phục bố lắm, bố thuộc hàng mấy nghìn câu Kiều, hàng trăm câu châm ngôn, danh ngôn nổi tiếng…
Chính vì vậy, tôi luôn cố gắng tự giác học tập. Tôi sẽ làm một bác sĩ và sẽ chữa bệnh cho bố, sẽ kiếm tiền để phụng dưỡng bố và đi tiếp những bước đường dở dang trong tuổi trẻ của bố. Tôi luôn biết ơn bố rất nhiều, bố đã dành cho tôi một con đường sáng ngời, bởi đó là con đường của học vấn, chứ không phải là con đường đen tối của tiền bạc. Tôi sẽ luôn lấy những lời bố dạy để sống, lấy bố là gương sáng để noi theo.
Và tôi khâm phục không chỉ bởi bố là một người giỏi giang, là một người cao cả, đứng đắn, lòng kiên trì chịu khó mà còn bởi cách sống lạc quan, vô tư của bố. Mặc dù những thời gian rảnh rỗi của bố còn lại rất ít nhưng bố vẫn trồng và chăm sóc khu vườn trước nhà để cho nó bao giờ cũng xanh tươi.
Những giỏ phong lan có bao giờ bố quên cho uống nước vào mỗi buổi sáng; những cây thiết ngọc lan có bao giờ mang trên mình một cái lá héo nào? Những cây hoa lan, hoa nhài có bao giờ không tỏa hương thơm ngát đâu? Bởi đằng sau nó luôn có một bàn tay ấm áp chở che, chăm sóc.
Không những yêu hoa mà bố còn rất thích nuôi động vật. Nhà tôi bao giờ cũng có hai chú chó con và một chú mèo. Có lúc bố còn mang về những chiếc lồng chim đẹp nữa. Và hơn thế, trong suốt hơn năm năm trời chung sống với bệnh tật, tôi chưa bao giờ nghe bố nhắc đến cái chết, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc trốn tránh sự thật, bố luôn đối mặt với “tử thần”, bố luôn dành thời gian để có thể làm được tất cả mọi việc khi chưa quá muộn.  
Nhưng cuộc đời bố bao giờ cũng đầy đau khổ, khi mà cả gia đình đã dần khá lên, khi các chị tôi đã có thể kiếm tiền, thì bố lại bỏ chị em tôi, bỏ mẹ, bỏ gia đình này để ra đi về thế giới bên kia. Bố đi về một nơi rất xa mà không bao giờ được gặp lại. Giờ đây khi tôi vấp ngã, tôi sẽ phải tự đứng dậy và đi tiếp bằng đôi chân của mình, bởi bố đi xa, sẽ không còn ai nâng đỡ, che chở, động viên tôi nữa.
Bố có biết chăng nơi đây con cô đơn buồn tủi một mình không? Tại sao nỡ bỏ con ở lại mà đi hả bố? Nhưng con cũng cảm ơn bố, bố đã cho con thêm một bài học nữa, đó chính là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy trân trọng những gì đang có, hãy yêu thương những người xung quanh mình hơn, và đặc biệt hãy quan tâm, chăm sóc cho bố của mình, tha thứ cho bố, khi bố nóng giận và nỡ mắng mình bởi bố luôn là người yêu thương nhất của chúng ta.
Bố ra đi, đi đến một thế giới khác, ở nơi đó bố sẽ không còn bệnh tật, sẽ thoát khỏi cuộc sống thương đau này. Và bố hãy yên tâm, con sẽ luôn nhớ những lời dạy của bố, sẽ luôn thương yêu, kính trọng biết ơn bố, sẽ sống theo gương sáng mà bố đã rọi đường cho con đi. Hình ảnh của bố sẽ luôn ấp ủ trong lòng con. Những kỷ niệm, những tình cảm bố dành cho con, con sẽ ôm ấp, trân trọng, nó như chính linh hồn của mình. 
Lời phê của cô giáo
Phan Thị Thanh Vân:
“Em là một người con ngoan, bài viết của em đã làm cho cô rất xúc động.
Điều đáng quý nhất của em là tình cảm chân thực và em có một trái tim nhân hậu, em đã cho cô một bài học làm người.
Mong rằng đây không chỉ là trang văn mà còn là sự hành xử của em trong cuộc đời”.

Chuyện Tình Chuồn Chuồn

Thành phố nhỏ yên tĩnh và xinh đẹp, hai người yêu đắm say, mỗi bình minh đều đến bờ biển ngắm mặt trời mọc, và mỗi chiều đi tiễn bóng tà dương ở bãi cát. Dường như những ai đã gặp đôi tình nhân đều nhìn theo với ánh mắt ngưỡng mộ.

Một ngày, sau vụ đâm xe, cô gái trọng thương im lìm nằm lại trên chiếc giường bệnh viện, mấy ngày đêm không tỉnh lại.

Buổi sáng, chàng trai ngồi bên giường tuyệt vọng gọi tên người yêu đang vô tri vô giác; đêm xuống, chàng trai tới quỳ trong giáo đường nhỏ của thành phố, ngước lên thượng đế cầu xin, mắt không còn lệ để khóc than.

Một tháng trôi qua, người con gái vẫn im lìm, người con trai đã tan nát trái tim từ lâu, nhưng anh vẫn cố gắng và cầu xin hy vọng. Cũng có một ngày, thượng đế động lòng.

Thượng đế cho chàng trai đang gắng gượng một cơ hội. Ngài hỏi: "Con có bằng lòng dùng sinh mệnh của con để đánh đổi không?" Chàng trai không chần chừ vội đáp: "Con bằng lòng"

Thượng đế nói: "Ta có thể cho người con yêu tỉnh dậy, nhưng con phải đánh đổi ba năm hoá chuồn chuồn, con bằng lòng không?" Không chần chừ chàng trai vội đáp: "Con bằng lòng"

Buổi sáng, cánh chuồn rời Thượng đế bay vội vã tới bệnh viện, như mọi buổi sáng. Và cô gái đã tỉnh dậy!

Chuồn chuồn không phải người, chuồn chuồn không nghe thấy người yêu đang nói gì với vị bác sĩ đứng bên giường.

Khi người con gái rời bệnh viện, cô rất buồn bã. Cô gái đi khắp nơi hỏi về người cô yêu, không ai biết anh ấy đã bỏ đi đâu.

Cô ấy đi tìm rất lâu, khi cánh chuồn kia không bao giờ rời cô, luôn bay lượn bên người yêu, chỉ có điều chuồn chuồn không phải là người, chuồn chuồn không biết nói. Và cánh chuồn là người yêu ở trước mắt người yêu nhưng không được nhận ra.
Mùa hạ đã trôi qua, mùa thu, gió lạnh thổi những chiếc lá cây lìa cành, cánh chuồn không thể không ra đi. Vì thế cánh rơi cuối cùng của chuồn chuồn là trên vai người con gái.

Tôi muốn dùng đôi cánh mỏng manh vuốt ve khuôn mặt em, muốn dùng môi khô hôn lên trán em, nhưng thân xác quá nhẹ mỏng của chuồn chuồn cuối cùng vẫn không bị người con gái nhận ra.

Chớp mắt, mùa xuân đã tới, cánh chuồn cuống cuồng bay trở lại thành phố tìm người yêu. Nhưng dáng dấp thân quen của cô đã tựa vào bên một người con trai mạnh mẽ khôi ngô, cánh chuồn đau đớn rơi xuống, rất nhanh từ lưng chừng trời.

Ai cũng biết sau tai nạn người con gái bệnh nghiêm trọng thế nào, chàng bác sĩ tốt và đáng yêu ra sao, tình yêu của họ đến tự nhiên như thế nào, và ai cũng biết người con gái đã vui trở lại như những ngày xưa.

Cánh chuồn chuồn đau tới thấu tâm can, những ngày sau, chuồn chuồn vẫn nhìn thấy chàng bác sĩ kia dắt người con gái mình yêu ra bể xem mặt trời lên, chiều xuống đến bờ biển xem tà dương, và cánh chuồn chỉ có thể thỉnh thoảng tới đậu trên vai người yêu, chuồn chuồn không thể làm gì hơn.

Những thủ thỉ đắm say, những tiếng cười hạnh phúc của người con gái làm chuồn chuồn ngạt thở.

Mùa hạ thứ ba, chuồn chuồn đã không còn thường đến thăm người con gái chàng yêu nữa. Vì trên vai cô ấy luôn là tay chàng bác sĩ ôm chặt, trên gương mặt cô là cái hôn tha thiết của anh ta, người con gái không có thời gian để tâm đến một cánh chuồn đau thương, cũng không còn thời gian để ngoái về quá khứ.

Ba năm của Thượng đế sắp chấm dứt. Trong ngày cuối, người yêu ngày xưa của chuồn chuồn bước đến trong lễ thành hôn với chàng bác sĩ.

Cánh chuồn chuồn lặng lẽ bay vào trong nhà thờ, đậu lên vai người mà anh yêu, chàng biết người con gái anh yêu đang quỳ trước Thượng đế và nói : "Con bằng lòng!". Chàng thấy người bác sĩ lồng chiếc nhẫn vào tay người con gái. Họ hôn nhau say đắm ngọt ngào. Chuồn chuồn để rơi xuống đất một hạt lệ đau đớn.

Thượng đế hỏi: "Con đã hối hận rồi sao?" Chuồn chuồn gạt hạt lệ nói: "Con không!"
Thượng đế hài lòng nói: "Nếu vậy, từ ngày mai con có thể trở thành người được rồi!"

Chuồn chuồn soi vào hạt nước mắt nhỏ, chàng lắc đầu đáp: " Hãy để con cứ làm chuồn chuồn suốt đời..."

Yêu một người không phải là nhất định phải có được họ. Nhưng đã có được một người thì hãy cố yêu lấy họ .... Có cánh chuồn nào trên vai bạn không ?

Và nếu bạn nhận được bài dịch này, chứng tỏ đang có một người nào đó yêu bạn, hoặc bởi vì bạn đang yêu quý một ai đó ở bên ....

Người Mẹ Điên


Hình minh hoạ
Hai muoi ba nam truoc , co mot co gai dau bu toc roi . gap ai cung cuoi cuoi ngo ngao'

Vì vậy, đàn bà trong làng đi qua cô gái thường nhổ nước bọt, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi "Cút cho xa!". Thế nhưng cô gái không bỏ đi, vẫn cứ cười ngây dại quanh quẩn trong làng.

Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ.Bà nội thấy con điên có sắc vóc, thì động lòng, quyết định mang cô ta về nhà cho cha tôi, làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi "đứa nối dõi" sẽ đuổi đi liền.Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể.

Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói: "Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!". Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ đến gần con.Mẹ chỉ muốn ôm tôi, bao nhiêu lần đứng trước mặt bà nội dùng hết sức gào lên: "Đưa, đưa tôi..." bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao? Dù sao, mẹ cũng chỉ là con điên.

Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi: "Mày đừng có hòng bế con, tao còn lâu mới đưa cho mày. Tao mà phát hiện mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!".Bà nội nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy cứng, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa từng thìa nuôi cho tôi lớn. Bà nói, trong sữa mẹ có "bệnh thần kinh", nếu lây sang tôi thì phiền lắm.

Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi. Một ngày, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ, bảo: "Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với cô. Cô ăn hết bát cơm này đi, rồi đi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà ở, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chửa?".

Mẹ tôi vừa và một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi hạ "lệnh tiễn khách" liền tỏ ra kinh ngạc, ngụm cơm đờ ra lã tã miệng. Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà, lắp bắp kêu ai oán: "Đừng... đừng...". Bà nội sắt mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét: "Con dâu điên mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có kết quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa? Ăn hết bát đấy rồi đi đi, nghe thấy chưa hả?".

Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất như Dư Thái Quân nắm gậy đầu rồng, "phầm!" một tiếng. Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch. Dưới cái nhìn giám sát, mẹ chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia cơm trong bát một phần lớn sang cái bát không khác, rồi nhìn bà một cách đáng thương hại.

Bà nội ngồi thẫn thờ, hoá ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ sẽ chỉ ăn nửa bát, chỉ mong bà đừng đuổi mẹ đi. Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài. Bà nội quay đầu đi, nuốt những giọt nước mắt nóng đi, rồi quay lại sắt mặt nói: "Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi. Ở nhà này cô cũng chết đói thôi!". Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm con cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra.

Bà nội dằn lòng đuổi: "Cô đi, cô đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà người ta giàu!". Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí. Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ. Lần đầu tiên mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, cười hạnh phúc rạng rỡ. Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa.

Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha đòi, tìm bà đòi, họ đều nói, mẹ tôi chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi: "Mẹ mày là một con điên, bị bà mày đuổi đi rồi". Tôi tìm bà nội vòi vĩnh, đòi bà phải trả mẹ lại, còn chửi bà là đồ "bà lang sói", thậm chí hất tung mọi cơm rau bà bưng cho tôi. Ngày đó, tôi làm gì biết "điên" nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? mẹ còn sống không?


Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau 5 năm lang thang. Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo: "Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, mẹ bị điên của mày về rồi!" Tôi mừng quá đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào.

Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu.
Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong đám tôi tìm con trai mẹ. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chòng chọc, nhếch mép bảo: "Thụ... bóng... bóng...". Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bóng bay trong tay, dúi vào tôi với vẻ lấy lòng. Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình người này.

Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to: "Thụ, bây giờ mày biết con điên là thế nào chưa? Là mẹ mày như thế này đấy!". Tôi tức tối đáp lại nó: "Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới là thế này!" Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị chất vấn dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện.

Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi "Mẹ!", khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng. Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi "quan sát học hỏi", bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn. Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ "cỏ lợn".

Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đòng trỗ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa: "Con mẹ điên lúa và cỏ mà không phân biệt được..." Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng bị cắt lúa tìm tới, mắng bà cố ý dạy con dâu làm càn. Bà nội tôi lửa giận bốc phừng phừng, trước mặt người ta lấy gậy đánh vào eo lưng con dâu, chửi: "Đánh chết con điên này, mày cút ngay đi cho bà..." Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi: "Đừng... đừng...". Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy chướng mắt, chủ động bảo: "Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ cô ta chặt một tí là được...".

Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oại người dưới đất thút thít khóc. Tôi khinh bỉ bảo: "Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, mày đúng là lợn!" Lời vừa dứt, gáy tôi bị một cái tát lật, là bà. Bà trừng mắt bảo tôi: "Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa? Đấy là mẹ mày đấy!" Tôi vùng vằng bĩu môi: "Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!". "A, mày càng ngày càng láo. Xem bà có đánh mày không!". Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt: "Đánh tôi, đánh tôi!".

Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ, đừng đánh tôi. Cánh tay bà trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm: "Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!".Tôi vào lớp một, cha được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương 50 tệ. Mẹ vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa.

Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ mang ô cho tôi. Có lẽ trên đường đến trường tôi mẹ đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi: "Thụ... ô...". Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Hỷ cầm đầu trêu chọc.

Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng bị thằng Hỷ tránh được. Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau. Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất. Lúc này, chỉ nghe một tiếng "vút" kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ giống như một đại hiệp "bay" ào vào, một tay tóm cổ thằng Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp. Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy. Mẹ dùng hai tay nhấc bổng thằng bắt nạt tôi lên trên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, một chân béo ị khua khoắng đạp loạn xạ trên không trung. Mẹ không thèm để ý, vứt nó vào ao nước cạnh cổng trường, rồi mặt thản nhiên, mẹ đi ra.

Mẹ vì tôi gây ra đại họa, mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra. Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng. Tôi hiểu ra đây là tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt. Lúc đó tôi không kìm được kêu lên: "Mẹ!" đây là tiếng gọi đầu tiên kể từ khi tôi biết nói. Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn. Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về. Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi bát đũa vò hũ trong nhà nát như tương, trong nhà như vừa có động đất cấp chín.

Đây là những người do nhà thằng Hỷ nhờ tới, bố thằng Hỷ hung hãn chỉ vào cha tôi nói: "Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 1000 tệ trả tiền thuốc thang, mẹ mày tao cho một mồi lửa đốt tan cái nhà mày ra". Một nghìn tệ? Cha đi làm một tháng chỉ 50 tệ! Nhìn những người sát khí đằng đằng nhà thằng Hỷ, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu mặt mẹ.Một trận lại một trận, mẹ chỉ còn như một con chuột khiếp hãi run rẩy, lại như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn, cả đời tôi không thể quên tiếng thắt lưng da vụt lạnh lùng lên thân mẹ và những tiếng thê thiết mẹ kêu.

Sau đó phải trưởng đồn cảnh sát đến ngăn bàn tay bạo lực của cha. Kết quả hoà giải của đồn cảnh sát là: Cả hai bên đều có tổn thất, cả hai không nợ nần gì nhau cả. Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó.Đám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn mẹ tôi vết roi đầy mình, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết. "Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh mẹ, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người. Bởi nghèo khổ quá mà thành họa đấy thôi!". Cha lại nhìn tôi nói: "Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì, nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời, nhé!". Tôi gật đầu, tôi hiểu.

Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc. Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời mà mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Cục Dân Chính khu tự trị Ân Thi (Hồ Bắc) xếp nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng trợ cấp 40 tệ. Trường tôi học cũng giảm bớt học phí cho tôi, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp. Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê 50 tệ một tháng, gánh tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ mang đi.

Hai mươi ki lô mét đường núi ngoằn ngoèo ruột dê làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió tuyết cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ bất cứ việc gì làm vì con trai, mẹ đều không điên tí nào. Ngoài tình yêu mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác. Y học cũng nên giải thích khám phá hiện tượng này.

27/4/2003, lại là một Chủ nhật, mẹ lại đến, không chỉ
mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ: "Ngọt quá, ở đâu ra?" Mẹ nói: "Tôi... tôi hái..." không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi chân thành khen mẹ: "Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!". Mẹ cười hì hì.

Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời. Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông.
Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa. Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi. Thím nói: "Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!" Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường? Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được.

Thím hỏi: "Mẹ mày có nói gì không?" Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay:" Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!"
Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm. Đường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả. Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước.

Thím nhìn tôi rồi nói: "Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!" Tôi nói: "Thím, thím đừng doạ cháu...". Thím không nói năng kéo tôi đi xuống vách núi...
Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã cứng lại thành đám màu đen nặng nề.Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: "Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi! Con hối hận đã nói rằng đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ... Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào..."
Tôi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi cũng rớt nước mắt theo tôi.

Ngày 7/8/2003, một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng dát bạc của Đại học Hồ Bắc đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, "bay" thẳng vào cửa nhà tôi.

Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ: "MẸ, con đã có ngày mở mặt mở mày rồi, MẸ có nghe thấy không? MẸ có thể ngậm cười nơi chín suối rồi!".

Người hành khất và con chó

Lão Chột trở mình thức giấc, trên trán còn ướt đẫm mồ hôi. Trong giấc chiêm bao vừa rồi lão thấy lại hình ảnh người vợ hiền năm xưa đang ẵm đứa con từ xa giơ tay vẫy vẫy. Lão thấy rõ ràng vợ con ngay trước mặt mà sao chạy hoài không tới và cuối cùng hình ảnh vợ con lão nhạt nhoà dần.
Lão vừa chạy vừa cất tiếng gọi tên vợ con thảm thiết nhưng hình như bà ta không nghe và tiếp tục mờ nhạt dần cho đến khi biến mất, cũng vừa đúng lúc lão giật mình thức dậy. Không biết đây là lần thứ mấy trong giấc chiêm bao lão mơ thấy vợ con. Nằm thêm một lúc không thể nào ngủ lại được, lão chống tay ngồi dậy nhìn bâng quơ ra ngoài đường, đầu óc cố nhớ lại hình ảnh thân yêu của vợ con trong giấc mơ khi nãy, con mắt còn lại của lão hình như còn đọng một giọt nước mắt. Giơ tay dụi mắt lão ngửa người dựa lưng vào bờ tường cửa hàng bách hoá, nơi lão chọn làm chỗ ngủ mỗi đêm. Hình ảnh vợ con thỉnh thoảng cứ hay về quấy phá trong giấc ngủ và chỉ có điều này mới có thể làm sống lại tình cảm trong con người khô cằn của lão. 

***** 

Sau những giấc mơ như vậy, hình ảnh trong quá khứ lại quay về khuấy động tâm tư và làm đau lại vết thương lòng đã liền da từ lâu của người ăn mày khốn khổ này. Lão Chột trước đây cũng là một người lành lặn và có vợ con như mọi người khác. Thời VNCH, lão đi lính địa phương quân cấp bậc binh nhất, đóng ở một quận lỵ thuộc tỉnh Chương Thiện. Ngoại trừ những bữa phải trực đêm, còn lại thì ngày ngày tới giờ xách súng đi gác ở trước quận. Nhiệm vụ mở cổng cho xe chạy ra chạy vô, gặp ông nào đeo lon sĩ quan thì giơ tay chào kính cho đúng điệu nhà binh, thế thôi. Hết giờ thì đổi gác đi về. Nói chung chỉ là một thứ lính làm kiễng. Tại đây lão quen và lập gia đình với một cô gái bán rau cải ở chợ. Cuộc sống của hai vợ chồng thật bình dị nhưng rất hạnh phúc, nhất là sau khi đứa con trai kháu khỉnh của họ chào đời. Tuy nhiên sống ở thời chiến tranh, mọi chuyện không ai có thể biết trước được. Con trai vừa mới ra đời không bao lâu thì một đêm cả nhà đang say ngủ, đạn pháo kích rót vào ngay khu vợ chồng lão đang ở. Kết quả tất cả người thân của lão: Cha mẹ già, vợ và đứa bé sơ sinh chết ngay tại chỗ. Còn riêng lão bị phỏng nặng và nhiều thương tật khác trên cơ thể. Người ta đưa lão vào bệnh viện cấp cứu sau một đêm bị kẹt dưới căn nhà đổ nát. Các bác sĩ đã tận tình cứu chữa và cứu sống được mạng lão, nhưng thân người bị co rút nhiều chỗ vì phỏng. Mắt trái bị mù và chân phải tuy được lắp vào một thanh sắt nhưng cũng bị khập khiểng suốt đời. Lão đã như một người điên loạn sau tai nạn thảm khốc và sự mất mát lớn lao này. Suốt ngày cứ kêu gào nguyền rủa đất trời và chưởi bới cả những người đã cứu mình rằng tại sao cứu sống lão làm gì, không để lão chết theo gia đình vợ con… Ai nhìn thấy cảnh đó cũng thương tâm. 
Sau khi rời bệnh viện với thân thể tàn tật, sức khoẻ yếu đuối. Không còn ai là thân nhân. Số tiền chính phủ trợ cấp tuy cũng đủ cho lão có thể làm vốn sinh sống bằng cách mua bán tạp hóa nhỏ. Nhưng về lại chốn cũ, nhìn đâu cũng thấy hình ảnh cha mẹ, vợ con đã chết thảm thiết, càng khiến lão đau lòng thêm nên sinh tật uống rượu say sưa suốt ngày… Dần dần tiền bạc hết sạch, lão bán luôn nền nhà, rời bỏ quận lỵ hiền hoà, bỏ lại sau lưng những hình ảnh hạnh phúc gia đình xa xưa... Hành trang mang theo bên mình đơn giản chỉ là nỗi đau thương chất ngất. 
Lý do dẫn dắt lão vào con đường ăn xin kế tiếp đó, không khó đoán cho lắm. Tiền bạc tiêu xài hết, thân thể lại tật nguyền không ai muốn thuê mướn… Lão lang thang khắp nơi. Người ta thường thấy lão la cà xin ăn ở các chợ búa, rồi trôi dạt đến bắc Cần Thơ, bắc Mỹ Thuận… cuối cùng lưu lạc lên tận Saigon. Không ai biết tên lão là gì. Nói cho cùng thì đâu ai để ý tới tên tuổi một người ăn xin? Chỉ có mấy đứa con nít thấy lão tật nguyền thỉnh thoảng trêu chọc gọi là "Lão Chột". Riết rồi danh xưng này nghiễm nhiên trở thành như một cái tên thực thụ của lão. Nhiều khi đi xin cả ngày không ai cho gì cả. Bụng đói meo, lão phải đến những quán ăn chờ người ta ăn xong, vào chộp vội những tô bát trên bàn vét chút thức ăn thừa mứa cho đỡ đói, bị chủ quán thẳng tay xua đuổi, đánh đập. Mỗi khi nhớ tới những lúc khốn khó đó, nước mắt tự nhiên ứa ra trên con mắt còn lại của lão. 
Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 xảy ra ảnh hưởng đến toàn miền Nam nhưng hình như không ảnh hưởng đến lão Chột nhiều cho lắm. Đã là một người đi ăn xin thì dù ở chế độ nào cũng có gì khác biệt nhiều đâu?? Lúc thiên hạ ở khắp nơi bồng bế nhau chạy nạn súng đạn, lão cũng vẫn dửng dưng không lo lắng gì cả. Lão chỉ theo đoàn dân tị nạn mục đích để xin ăn thôi… rồi cũng được cho vào khu tạm trú do chính quyền VNCH dựng lên. Thật tình nói, mấy ngày giặc giả này đâm ra lão lại được no đủ hơn những ngày thường. Ngoài thực phẩm được phát, lão còn được cả quần áo và những đồ dùng khác nữa. Cho nên mặc ai lo âu gì thì lo, lão cứ tỉnh bơ. 
Cuộc đổi đời xảy ra. Cộng Sản lên nắm chính quyền. Đối với lão cũng chẳng có gì thay đổi. Ngày ngày lão cũng vẫn phải đi ăn xin. Chế độ mới cũng chẳng giúp được gì cho những người như lão hết. Đối với bọn ăn xin như lão, mấy chữ Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc… gì gì đi nữa thì cũng chỉ là những danh từ rỗng tuếch và hoàn toàn vô nghĩa. Cuộc sống của lão dù ở chế độ nào thì cũng thế. Thời VNCH lão cũng đi ăn xin. Bây giờ Cộng Sản lên nắm chính quyền thì lão cũng đi ăn xin chứ có khác gì đâu? Chế độ nào cũng hô hào cho dữ, la cho to…nhưng những chuyện đó dành cho ai khác chứ không phải cho bọn khốn khổ ăn mày như lão. Bởi vậy mỗi ngày lão đi dưới cờ xí rộn ràng và những biểu ngữ thật kêu nhưng lòng lão thật dửng dưng. Đối với lão tất cả những thứ đó đều là vô nghĩa! 
Tuy nhiên đi ăn xin cũng đâu phải là yên. Bọn hành khất như lão cứ bị đuổi lên đuổi xuống hoài. Nhiều biểu ngữ hô hào cho chiến dịch "Quyết tâm làm sạch đường phố" treo khắp nơi và bọn công an được lệnh thẳng tay xua đuổi những người được coi như đang làm dơ bẩn đường phố: Trong đó có những người bán hàng rong bị xem là lấn chiếm lòng lề đường, những kẻ tật nguyền ăn xin như lão thì bị xem như là thành phần cặn bã, ăn bám xã hội… chỉ làm xấu bộ mặt thành phố chứ chẳng ích lợi gì!. Như vậy hóa ra bọn ăn mày như lão đồng nghĩa với một thứ rác rưới nào đó không hơn không kém. 
Có lúc bị xua đuổi quá, bụng thì đói meo. Lão đã không còn dằn được lên tiếng chưởi lại bọn công an, không sợ gì cả: 
- "Tổ mẹ tụi bây. Tao đi ăn mày lòng thương hại của bá tánh chứ có mắc mớ gì tới mả mẹ tụi bây mà tụi bây xua đuổi. Cấm không cho tao đi ăn xin thì phải cho tao ăn cái gì chứ . Tụi bây chỉ biết đuổi tao đi khơi khơi thì lấy gì tao ăn. Sao không bắn một phát vô đầu cho tao chết mẹ luôn cho rồi. Tổ mẹ tụi bây. " 
Bọn công an thấy lão già ăn mày liều mạng quá nên cũng giả vờ không nghe thấy. Chỉ hù dọa cho lão bỏ đi. Những cảnh như thế diễn đi diễn lại hoài. Hễ bị công an đuổi đầu này, lão lại trốn chạy đi đầu khác xin ăn tiếp. Cứ thế lão và những người hành khất khác sống lây lất hết ngày này qua ngày khác với một kiếp sống cơ cực đáng thương. 
Trời bỗng đổ mưa. Một vài hạt mưa lất phất theo gió lùa vào tận nơi lão chọn nằm ngủ như trêu chọc người hành khất khốn khổ. Phía ngoài đường vẫn vắng teo. Lão Chột ngoác miệng ra ngáp rồi ngó mông mênh ra bên ngoài. Giờ này chắc cũng gần sáng rồi chứ không ít. Ngồi lâu cảm thấy mỏi mệt, lão lại nằm xuống lắng nghe tiếng mưa tí tách êm tai, cố ngủ thêm một chút. Bỗng đâu đó có tiếng kêu của một con chó con. Ban đầu lão không để ý, nhưng càng lúc tiếng kêu của con chó càng thảm thiết quá. 
- "Chó nhà ai mà đi lạc vào giờ này vậy??" 
Lão Chột vừa lẩm bẩm vừa ngồi dậy nhìn dáo dác hai bên vỉa hè. Không thấy gì cả! Qua ánh đèn đường, hai dãy phố hoàn toàn vắng vẻ. Lão đứng dậy, lấy cái nón rách trong túi vải đội lên đầu và bước dọc theo vỉa hè nơi có tiếng kêu của con vật vọng tới. Lão chậm rải đi tìm cẩn thận từng chỗ, thì phát hiện một con chó con đứng nép vào góc tường dưới mái hiên của một cửa hàng. Con vật ướt mem đang run rẩy kêu rên những tiếng bi thảm. Lão Chột vội ẵm con vật về, lau khô lông và quấn vào người nó một miếng giẻ rách. Sau đó lấy trong túi vải ra một mẩu bánh mì nhỏ mà lão để dành lúc tối, nhai từng miếng nát nhừ hết rồi đút cho con vật. Tội nghiệp! Có lẽ nó đói lắm nên ăn ngon lành. Lão thì thầm nói với con chó: 
- "Con đi đâu mà bị lạc cho khổ vầy hả?". 
Con vật ăn xong liếm liếm vào tay lão ra chiều thân thiết và biết ơn lão đã săn sóc cho nó. 
Tự nhiên một cảm giác ấm áp vô hình dâng lên trong lòng người hành khất già.Từ bấy lâu nay lão chỉ thui thủi một mình. Ai nấy đều tránh né lão như tránh né một người bị bệnh truyền nhiểm. Một vài đứa trẻ và thậm chí đôi khi có cả người lớn thường hay trêu chọc hoặc ném đá vào lão. Do thế mỗi ngày ngoài việc phải lên tiếng xin xỏ lòng thương hại của những người qua đường, còn lại thì gần như lão không nói chuyện với ai, kể cả những người hành khất khác. Những đêm khuya trăn trở không ngủ được, đôi lúc lão cảm thấy cô đơn vô cùng. Thà là có người nào đó ghét bỏ, thù hận lão… ít ra như vậy người đó vẫn còn "nhớ", còn "nghĩ" tới lão để mà ghét bỏ, thù hận. Đàng này mọi người ai nấy đều "thờ ơ" với lão. Sự hiện hữu hay không hiện hữu của lão trên cõi đời này không ai thèm quan tâm. Chao ôi! Cái cảm giác cô đơn đó mới đáng sợ làm sao!! 
Bỗng dưng bây giờ khi ẵm con chó nhỏ vào lòng và nhìn nó liếm bàn tay của mình ra chiều thân thiết, lão thấy an ủi và xúc động lắm. Lâu lắm rồi lão không có được cảm giác thân thiết này. Trong một thoáng, con vật nhỏ bé trong lòng lão không còn là một con vật nữa. Mà đó là một "con người", một sinh vật huyền dịu ơn trên vừa ban xuống để an ủi lão. Con mắt còn lại của lão nhấp nháy, rơi xuống một giọt nước mắt hồi nào không hay. Lão nhìn con vật bằng ánh mắt tràn đầy yêu thương, trong đó đang lóe lên một tia lửa đủ sưởi ấm tâm hồn từ lâu đã giá lạnh của lão. 
- "Con ngoan, từ nay Ba sẽ săn sóc cho con. Cha con mình có gì ăn nấy nghe con." 
Lão vuốt ve trên đầu con chó một cách trìu mến và thì thầm nói với con vật như đang nói với đứa con bạc phước đã sớm qua đời của lão. Con vật như cảm nhận được sự thương yêu đùm bọc và cảm thấy an toàn trong lòng của người hành khất già, nên sau khi ăn no nó tựa cái đầu nhỏ xíu lên bàn tay của lão và ngủ ngon lành. Nhìn con chó ngủ say sưa, lòng lão thấy ấm áp hẳn lên: 
- "Ngủ ngoan đi con. Từ nay sẽ không ai ăn hiếp được con đâu. Ba sẽ nuôi con đàng hoàng nghe." 
Đặt nhẹ con vật lên tấm giẻ rách, lão Chột ngồi yên lặng ngắm nhìn nó ngủ. Từ lâu lắm rồi lão chưa hề thấy lòng mình vui như vậy. Cơn mưa chấm dứt hồi nào không biết. Bên ngoài trời đang sáng dần và trong lòng lão Chột cũng đang hé lên ánh bình minh. 

******* 
Lão Chột về tới khu phố quen thuộc nơi lão chọn làm chỗ ngủ qua đêm thì trời đã khuya lắm rồi. Hai bên đường, những quán tiệm hầu như đã đóng cửa hết. Lẽo đẽo theo sau là con chó Vàng trung thành. Nhìn dáng đi xiêu vẹo của người hành khất và điệu bộ của con chó, người ta cũng có thể đoán được cả hai chủ tớ đều mệt mỏi lắm. Mấy lúc gần đây lão Chột đã tìm được một chỗ trú ẩn mới khá hơn ở những vỉa hè trước đây. Đó là một công trường xây cất lớn đang bị tạm đình chỉ vì nghe đâu có sự tranh chấp gì đó giữa chủ công trường và chính phủ. Đối với Lão Chột thì có cần gì biết đến những chuyện tranh chấp đó. Miễn kiếm được chỗ an toàn tạm trú qua đêm là tốt lắm rồi. Để vào được chỗ này mà không bị ai phát giác lão phải về thật tối, vạch một lổ hổng ở hàng rào chui vào, lão chọn một góc khuất và kín đáo nhất của một toà nhà đang xây cất dở dang làm chỗ ngủ mỗi đêm để tránh mưa gió. Chỗ ở này quả thật lý tưởng cho những người vô gia cư như lão. Lại có cả vòi nước đặt sẵn nên lão và con chó có thể lén tắm rửa mà không ai biết. Thật là tiện lợi. 
Lão Chột cảm thấy khoan khoái khi ngồi xuống dựa lưng vào vách tường toà nhà. Con chó đến nằm sát bên chủ ngước đầu lên chờ đợi. Lão lấy trong túi vải ra một ổ bánh mì thịt đã mua trên đường về. Đây là buổi ăn tối của người hành khất già và con vật. Lão Chột vừa chậm rãi ăn, vừa thỉnh thoảng bẻ một miếng đưa cho con chó. Ánh sáng hiu hắt từ đèn đường bên ngoài hắt vào, soi bóng lão Chột và con chó lên trên nền tường với những cử động trông giống hệt như một đoạn phim hoạt họa! Một người và một vật lặng lẽ ăn. Thỉnh thoảng có tiếng lão Chột nói chuyện với con chó như nói chuyện với một người thật: "Xuỵt! xuỵt! Từ từ con… Nè ăn đi…Giỏi! Giỏi! Mai có nhiều Ba cho con nhiều hơn nghe… Ngon không con… Thôi! Hết rồi, mai ăn tiếp. Bây giờ chuẩn bị đi ngủ nghe..." 
Lão với lấy cái bình nhựa đựng nước trong góc, đổ một ít vào cái bát cho con chó, rồi ngửa cổ uống mấy ngụm. 
- "Thôi! No đủ rồi. Bây giờ ngủ đi. Ba cũng mệt quá rồi!" 
Lão xoa xoa đầu con chó rồi ngả người nằm lên miếng carton lớn được xé ra từ một thùng giấy. Sau một ngày lang thang ngoài đường. Lão Chột cảm thấy khoan khoái vô cùng khi nằm dài trên miếng carton. Con chó nằm bên cạnh liếm liếm vào mặt chủ trong khi lão vỗ vỗ nhẹ vào mình nó. Được một lúc cả hai rơi và giấc ngủ. 
Mới đó mà đã hơn một năm rồi. Con chó nhỏ ngày nào bây giờ đã to lớn với bộ lông vàng mượt mà rất đẹp. Cũng vì màu lông của con chó mà lão Chột đặt tên con vật là "Vàng". Kể từ hôm bắt gặp nó đi lạc, lạnh cóng trong mưa. Mỗi ngày lão Chột dẫn nó theo ăn xin. Những lúc xin được tiền hoặc thức ăn đầy đủ thì “hai cha con” ăn no. Còn hôm nào đi xin không được nhiều lão vẫn để cho con vật ăn trước, còn dư lại thì lão mới ăn, không thì lão chịu nhịn đói, uống nước lạnh cho qua bữa đó, chứ không để cho con vật bị đói. Lúc chưa tìm được chỗ mới này, dù ở trong điều kiện khó khăn, ngay cả lão ít khi có dịp được tắm rửa, nhưng thỉnh thoảng lão dẫn con chó đi quanh khu chợ Saigon, tìm đến những nơi có vòi nước xin mấy thau nước tắm cho con chó. Từ lúc có con Vàng, cuộc sống của lão Chột hoàn toàn khác hẳn. Lão không còn cảm thấy cô đơn và ít khi tỏ ra cáu kỉnh, bực dọc như trước đây nữa. Những lúc không đi xin, lão vừa chơi đùa với con chó vừa tập cho nó nghe theo những mệnh lệnh làm nhiều trò để tiêu khiển. Con vật rất thông minh nên chẳng bao lâu nó đã biết nghe theo lời chủ làm được nhiều trò ngoạn mục. Ban đầu lão chỉ nghĩ tập con chó Vàng như là một thú tiêu khiển lúc rảnh rỗi. Nhưng không ngờ với sự thông minh của con chó và những màn nhào lộn, làm đủ trò của nó đã giúp cho việc ăn xin của lão dễ dàng hơn nhiều. Trên đường phố bây giờ lão không còn phải lê la đi khắp nơi ngửa tay van xin tiền khách qua đường nữa, mà chỉ cần kiếm một chỗ đông người qua lại ngồi xuống đó điều khiển con chó. Với những màn biểu diễn của con vật khôn ngoan, người đi đường thích thú đứng lại xem rất nhiều. Sau khi diễn trò, con chó theo lệnh chủ đứng lên bằng hai chân sau, hai chân trước bê một cái thau nhỏ đi vòng vòng. Người đứng xem vỗ tay tán thưởng và bỏ tiền vào cái thau khi con chó đến gần. Con Vàng thậm chí còn biết sủa lên hai tiếng nhỏ như cám ơn khi người ta bỏ tiền thưởng vào thau nhựa càng làm cho mọi người thích thú thêm. Nhất là những du khách ngoại quốc. Nhờ thế cuộc sống của hai cha con lão Chột trở nên thoải mái hơn nhiều so với lúc trước. Giờ đây mỗi ngày lão Chột đã có thể mua được thức ăn đầy đủ cho lão và con chó. Không còn phải chịu cảnh đói khổ như trước nữa. Đối với lão Chột, con Vàng giống như một món quà quí báu do ơn trên ban xuống, vừa an ủi tinh thần vừa giúp cho cuộc sống vật chất của lão dễ thở hơn. Trước đây, lão đã từng ước mơ chỉ cần làm sao ngày hai buổi có chút thực phẩm ăn để không phải chịu đói nữa và có một người nào đó nói chuyện an ủi lão những khi cô đơn. Nếu được như vậy là đủ rồi. Sự xuất hiện của con chó đã biến ước mơ của lão thành sự thật. Đúng là Trời Phật đã thương xót nên cuối cùng đã ban cho lão con vật trung thành quí báu này. Tuy vậy việc ăn xin không phải lúc nào cũng thuận lợi mãi như ước mơ nhỏ bé của người hành khất già khốn khổ. Càng ngày chiến dịch làm đẹp thành phố của nhà nước càng tỏ ra gắt gao hơn trước, nhất là từ khi có những dịch vụ khai thác về nguồn lợi du lịch. Hình ảnh những người ăn xin rách rưới như lão Chột là hình ảnh xấu của chính quyền đối với người ngoại quốc và làm mất đi vẻ mỹ quan của thành phố. Chính quyền cương quyết tống khứ hết những hình ảnh xấu này ra khỏi đường phố có người ngoại quốc thường hay lui tới. Công an được lệnh xua đuổi thẳng tay việc buôn bán hàng rong lấn chiếm lòng lề đường và tống khứ hết đám hành khất dơ bẩn ra khỏi thành phố. Nhưng khổ thay chính quyền chỉ biết xua đuổi mà không có kế hoạch giúp cho họ tự sinh sống được, cho nên chuyện đâu rồi cũng hoàn lại đấy. Công an cứ bắt, cứ xua đuổi. Người bán hàng rong, người ăn xin vẫn trở về lại những đường phố cũ để kiếm sống. Ngay cả ban đêm, công an có những chiến dịch đột xuất lùng soát các đường phố, bắt hết người vô gia cư ngủ ở vỉa hè chở đi ra khỏi thành phố. Được một thời gian, không có cách gì khác để sinh sống, những người hành khất vô gia cư bị đuổi bắt … lần hồi rồi cũng tìm cách trở về thành phố Saigon nơi họ còn có thể đi xin kiếm miếng ăn qua ngày được.

Mới tuần trước nửa đêm đang ngủ, nhờ con chó đánh hơi báo động nên lão Chột thoát được một cuộc ruồng bố của công an. Lão và con Vàng phải trốn chui nhủi ở mấy ngõ hẻm khác nhau, đợi đến khi trời sáng mới dám đi ra. Lão không lo gì cho bản thân mà chỉ lo cho con chó. Hôm trước mấy tay công an đã hăm dọa nếu bắt được lão và con chó ngủ lang thang ở vỉa hè thì sẽ bắt nhốt lão, còn con chó thì sẽ bị đưa đi sở thú y, nơi con chó chắc chắn sẽ bị giết chết. - "Nhảy! Nhảy! Nhảy đi Vàng" - "Lăn! Lăn! Cho Ba coi. Vàng! Con giỏi quá! Lăn! Lăn đi con!" - "Đứng lên! Đứng lên! Vàng. Giỏi. Giỏi!" … Lão Chột ra lệnh và con chó làm theo những mệnh lệnh đó một cách khéo léo. Khi thì nó lăn tròn qua phải, rồi qua trái. Khi thì nó nhảy lên. Những người đi đường đứng xem vỗ tay tán thưởng. Một vài du khách ngoại quốc chụp hình và quay phim con chó. Lão Chột hứng chí ra lệnh thêm cho con vật làm trò. Khi diễn xong hết mọi trò, lão ra lệnh: - " Đứng lên! Đứng lên đi Vàng . Giỏi! Giỏi! " - " Đi chào bà con đi con. Đi chào bà con đi. Giỏi! Giỏi! " Con chó nghe lệnh, đứng thẳng người bằng hai chân sau, hai chân trước bê một cái thau nhựa nhỏ đi vòng vòng. Khán giả vỗ tay khen ngợi con vật thông minh và bỏ tiền vào thau nhựa. Con chó sủa lên hai tiếng:"Gâu! Gâu!" nhỏ như cám ơn càng làm cho khán giả đang xem thích thú. Nhiều đứa con nít reo lên: - "Con chó này khôn quá!" Trong khi người đi đường còn đang xem con chó làm trò và một vài du khách ngoại quốc tiếp tục chụp hình thì hai tên công an bỗng từ đâu rẽ đám đông tiến vào. Một tên chỉ vào mặt lão Chột mắng: - "Tại sao nói hoài mà mày cũng còn đến đây ăn xin vậy! Mày muốn tao bắt không?" Lão Chột cũng không vừa, sừng sộ lại: - "Tui đi xin chứ có phạm luật lệ gì mà đòi bắt? Ỷ làm công an rồi muốn bắt ai thì bắt hả? Thằng này hỏng có ngán đâu." Tên Công an còn lại chỉ vào mặt lão hầm hừ: - "Mày còn muốn nói ngang phải không? Muốn thì tao bắt liền cho coi." Hắn quay qua chỉ con chó, nói tiếp: - "Còn con chó này, sao mày không xiềng nó lại? Tao kêu xe bắt chó tới bắt liền bây giờ? Mày thả lỏng nó như vậy, rủi nó cắn người ta sao mậy? Gã công an quát vào mặt lão Chột: - "Dẹp chỗ này đi liền! Tao nói lần này là lần chót đó nghe. Tụi tao còn bắt gặp mày ở khu này là đứng có trách là tao không nói trước đó." Lão Chột bực tức lắm khi thấy đám đông giải tán dần trước sự xuất hiện của hai tên Công an. Ai mà không bực khi nồi cơm của mình đang ăn bị người khác tới đá đổ. Lão cự lại hai tên công an: - "Tụi mày có giỏi thì bắn vô đầu tao một viên chết mẹ cho rồi. Tao đói khổ đi ăn xin chứ có làm gì mà tụi bây cứ xua đuổi hoài…" Con Vàng nhìn hai tên công an, nhe răng lên tiếng gầm gừ trong cổ họng. Chỉ cần hai tên công an đụng tới lão Chột hoặc lão ra dấu hiệu là nó nhào vào "độp" hai tên này liền. Sợ con chó làm ẩu sinh chuyện lớn, nên cuối cùng lão Chột phải lên tiếng la nó và nhặt vội cái thau nhựa nhỏ rồi ra lệnh con chó đi theo mình. Hai tên công an còn nói vói theo: - "Khôn hồn thì đừng ăn xin ở đây nữa nghe mậy. Lần tới không có chuyện để cho tụi bây đi dễ dàng vậy đâu. Cái đồ gì đâu lì lợm không chịu được." Những chuyện bị đuổi như thế này xảy ra gần như mỗi ngày. Có hôm đang ăn xin thì có xe chở đầy công an bố ráp và bắt những người buôn bán hàng rong, hành khất trên lòng lề đường gây nên một cảnh náo nhiệt cả một đoạn đường. Cũng may những lần như vậy nhờ náo động ở phía trên và mấy chị em gánh hàng rong chạy trốn công an thông báo lẫn nhau, nên hai thấy trò lão nhanh chân trốn thoát được hết. Cả tuần vừa qua chiến dịch đuổi bắt những người buôn bán hàng rong và hành khất trên khắp đường phố quanh trung tâm Saigon lại càng xiết chặt hơn nhiều. Công an đi tuần liên tục, nên lão Chột không kiếm ăn được như trước. Khổ nỗi những con đường chính này là nơi lão Chột dễ xin được tiền vì nhiều người qua lại và nhất là có nhiều du khách ngoại quốc. Ba ngày nay hai cha con lão đói đến nỗi phải lục tìm trong những đống rác chút ít thực phẩm thừa mứa người ta đã vứt bỏ. Trước đây người hành khất khốn khổ này đã từng làm như vậy nhiều lần rồi. Lão chẳng màng lắm đến bản thân lão. Nhưng bây giờ ngoài lão ra còn có con Vàng nữa. Nhìn con vật thương yêu của mình đói, lão đau lòng lắm nhưng không biết phải làm sao. Lão đã thử đi xin ở những con đường khác nhưng cả ngày chẳng kiếm chác gì khá cả!! Chỉ có ở khu Nguyễn Huệ, Lê Lợi hoặc chung quanh chợ Saigon là nơi dễ xin ăn nhất thì lại bị cấm đoán, xua đuổi! Thiệt là bực bội! Sáng hôm nay thức dậy. Lão vuốt ve con vật và thầm thì với nó: - "Con ráng nghe Vàng. Hôm nay cha con mình ráng kiếm tiền rồi Ba sẽ mua cho con ăn no nghe. Ba biết con đói mấy bữa nay rồi. Ba cũng vậy. Thôi ráng nghe con." Con vật ngoắc đuôi, liếm liếm lên tay chủ và kêu lên những tiếng khe khẽ như cảm thông với người chủ nghèo nàn của mình. Lão Chột nhủ thầm: - "Hôm nay bằng mọi giá mình phải ra Saigon kiếm tiền. Bữa nay phải mua cái gì cho con Vàng ăn no. Không thể để nó đói hoài như vầy được." Con mắt còn lại của lão sáng lên biểu lộ sự cương quyết. Lão vỗ nhẹ vào đầu con vật: - "Bữa nay con ráng diễn trò cho hay nghe con. Kiếm vừa đủ tiền là Ba sẽ mua đồ ăn cho con ăn liền. Thôi bây giờ cha con mình đi nghe." Con vật kêu lên "ư ử" khe khẽ và vẫy đuôi như dấu hiệu đã sẵn sàng. ***** Lão Chột khập khiểng đang đi sau con Vàng nhận tiền cho của khách bộ hành sau một màn biểu diễn của con vật thì nghe tiếng còi tu huýt vang lên và tiếng chân người rượt đuổi nhau chạy thình thịch ở hai đầu đường. - Công an bố ráp. Chạy đi ! Chạy đi. Có xe tới xúc nữa kìa. Mấy người gánh hàng rong vừa gánh hàng chạy vừa la lên báo động cho những người khác. Lão Chột cũng hoảng hồn lên tiếng gọi con Vàng chạy theo mình. Lần bố ráp này, công an đã sắp đặt từ nhiều đoạn khác nhau trên đường Lê Lợi cùng một lúc lùa vào chính giữa nên những người mua gánh bán bưng ở vỉa hè và những người hành khất trên con đường này đa số đều bị kẹt hết. Một số hành khất và người bán hàng rong đã bị công an bắt được vứt lên xe cùng những thúng gánh ngổn ngang. Nhiều món bánh trái của người bán bị xô đẩy rơi vãi đầy đường. Tiếng la hét, chưởi rủa ầm ỉ… náo động cả một khoảng đường Lê Lợi, khiến người dân đi đường và du khách ngoại quốc cũng phải sợ hãi tránh né đi hết. Lão Chột lúng túng không biết chạy ngả nào vì hai đầu đường đều bị chặn hết. Có hai tên công an đang chạy tới phía lão, tay chỉ trỏ la hét. Lão Chột lính quính gọi con chó rồi chạy băng ngang qua bên kia đường. Con chó phóng ngay theo sau. - Rầm! kkéttt. - Ối! Chết tôi rồi. - Oẳng … Oẳng…Oẳng. Tiếng kêu đau đớn của lão Chột và con chó hòa theo tiếng la gọi thất thanh của nhiều người đi đường cùng một lúc: - Chết rồi! Xe đụng ông già ăn mày và con chó rồi. Sự việc xảy ra nhanh quá. Ngay sau khi một chiếc xe vận tải đụng lão Chột và con chó văng ra. Mấy chiếc xe gắn máy chạy gần đó tránh không kịp nên cũng cán lên mình lão hành khất và con vật đáng thương. Một vài người dừng xe chạy lại. Có người la lên: - "Ai có điện thoại gọi dùm xe cứu thương đi." Miệng lão Chột ứa đầy máu. Lão nằm yên, không nhúc nhích gì được: - "Vàng! Vàng! Con tôi đâu rồi" Một người cúi sát xuống hỏi: - "Ông nói gì? Tôi không nghe rõ." Lão nắm tay người đi đường, giọng thều thào ngắt quãng: - "Con tôi… đâu rồi? Làm ơn.. đưa dùm… con Vàng đến… với tôi" - "Con ông là ai. Tên gì? Nó ở đâu?" - "Nó là… con Vàng. Con… chó… của tôi" - Miệng lão tiếp tục ứa máu trong khi nói – Con chó bị thương nặng nằm dãy dụa cách đó khoảng chừng hai, ba bước nhưng lão Chột không thể xoay người được để nhìn nó. Lão nằm yên bất động, con mắt còn lại mở trừng trừng như cố tìm kiếm đâu đó hình ảnh con vật thân yêu. Lão nghe tiếng con vật kêu la "Oẳng… Oẳng… " gần đó mà lòng đau như cắt. Tiếng kêu của con vật càng lúc càng yếu dần làm lão càng bấn loạn thêm lên. Tuy không nhúc nhích được và miệng trào đầy máu, nhưng lão Chột không cảm thấy đau đớn. Đầu óc lão chỉ quan tâm tới con chó. Với một giọng khàn đục, lần đầu tiên người hành khất già cất tiếng van xin người đi đường một điều không phải là tiền bạc hoặc thức ăn: - "Xin ông bà... làm ơn làm phước… cho tôi gặp con tôi... Tôi biết… nó ở gần đây... Làm ơn… bế nó... lại dùm… tôi. Xin ông bà…" Lão vừa van xin, vừa mếu máo khóc. Máu từ trong khoé miệng vẫn trào ra không ngớt. Có tiếng một người nào đó la lên: - "Có ai gọi xe cứu thương chưa? Trời ơi! Ông già bị thương nặng quá!". - "Rồi! Tôi đã gọi rồi. Xe cấp cứu đang trên đường tới ngay bây giờ." Mấy gã công an bên kia đường lúc này cũng đã chạy tới giải tán đám đông. Một gã là công an khu vực ở đây và thường hay xua đuổi đám bán hàng rong, hành khất… cúi xuống nhìn lão Chột. Trong ánh mắt gã công an lúc đó toát ra một tia thương xót khác hẳn mọi ngày: Ánh mắt của một con người đang nhìn đồng loại của mình đang dãy chết! Gã ân hận lắm khi nhìn thấy người hành khất đang nằm bất động trong vũng máu. Lão Chột rên rỉ khi nhìn thấy gã công an cúi xuống trước mặt mình: - "Xin đừng… đuổi tôi! Để tôi… gặp con tôi. Xin làm ơn… đừng đuổi cha con tôi nữa." Lão lại khóc. Giọt nước mắt trào ra pha lẫn chút máu làm con mắt còn lại nhạt nhòa. Gã công an cúi xuống nói với lão Chột, giọng pha chút nghẹn ngào đầy thành tâm: - "Ông nằm yên đi. Xe cứu thương sắp đến. Tôi xin lỗi. Ông chạy làm chi cho khổ vậy. Tôi chỉ đuổi ông đi thôi, cứ từ từ đi cũng đâu có sao. Chạy làm chi vậy. Chẳng qua tôi chỉ làm bổn phận thôi... Xin ông tha lỗi cho tôi." Không để ý gì tới lời của gã công an, lão Chột cứ tiếp tục thều thào, van xin: - "Con Vàng… của tôi đâu. Cho tôi… gặp con chó… của tôi. Xin ông làm ơn…" Con chó đang nằm hấp hối gần đó, miệng trào máu, lưỡi thè dài ra. Nó không còn kêu la " Oẳng Oẳng" được nữa mà chỉ nằm yên đó, thỉnh thoảng toàn thân co giật lên như bị điện giật. Đầu nó hướng về lão Chột đang nằm. Nó nhìn thấy chủ, muốn lết tới mà không làm được. Gã công an cúi xuống bế con chó lên, đặt vào cánh tay người hành khất khốn khổ. Con chó cố gắng rướn người lên liếm liếm vào mặt chủ của mình. Trên thân thể ỉu xìu của con vật sắp chết, người ta thấy cái đuôi nó ve vẩy nhẹ như mừng rỡ đã đến được bên chủ. Tuy không cử động được, nhưng lão biết là gã công an đã giúp đặt con chó vào lòng mình. Lão nhìn gã công an với ánh mắt biết ơn. Mấy ngón tay vuốt nhẹ trên lưng con vật: - "Vàng… Con ngoan... Con yêu quí… của ba. Con có… sao không?" Con chó rên ư ử trong cổ họng như cố trả lời chủ, tiếng rên yếu dần… yếu dần… và cuối cùng đầu nó ngả qua một bên. Nó đã chết! Lão Chột vẫn tiếp tục thì thầm những câu gì không rõ. Con mắt còn lại mở trừng trừng nhìn lên khoảng không trên cao như cố níu kéo một bóng hình xa xôi nào đó. Bỗng lão thấy dáng vợ lão đang ôm đứa con trai từ trên không giơ tay vẫy vẫy. Hình ảnh giống như trong những giấc mơ lão thường thấy. Lão cố gọi tên vợ con mà sao không gọi được. Cổ họng bị nghẹn cứng như có vật gì bít lại. Rồi lão thấy hình ảnh của vợ con cứ khi ẩn khi hiện qua những vật gì đang phe phẩy trên cao. Nước mắt lão lại trào ra pha lẫn máu trong con mắt còn lại khiến mọi vật trở thành đỏ dần, đỏ dần… trước khi tất cả thình lình phủ xuống một màu đen sẩm… Trên cao những lá cờ đỏ vẫn vô tư phe phẩy trong gió mát buổi sáng, xen lẫn mấy tấm biểu ngữ với những giòng chữ thật đẹp, kêu gọi mọi người thi đua thực hiện Chiến Dịch Xóa Đói Giảm Nghèo! Hết

Một câu chuyện cảm động thành đề bài làm văn

Bài làm học sinh Nguyễn Đoàn Minh Đức (lớp 10/1 Trường THPT Gò Công Đông):
Mấy hôm nay trời cứ trở lạnh. Những cơn gió thổi đến mang theo cái se lạnh của những ngày cuối đông. Nằm vùi trong chăn ấm nhưng tôi lại nghĩ đến những đứa trẻ phải thức dậy từ rất sớm để phụ giúp gia đình lo toan kế sinh nhai. Lòng tôi như thắt lại. Bất chợt tôi nghĩ đến Trần Phú Tài, một cậu bé mà tôi tình cờ biết được qua một bài viết trên báo TS. Hình ảnh cậu bé Tài in mãi trong tâm trí tôi về nghị lực sống, nghị lực của một con người vượt lên trên số phận.
Câu chuyện bắt đầu từ buổi trưa hôm ấy. Sau khi dùng cơm trưa xong, thầy hiệu trưởng ở lại trường để chờ cuộc họp lãnh đạo vào buổi chiều. Trưa ấy, mặt trời đổ xuống mặt đất cái nắng cháy da bỏng thịt. Cái nắng giữa lòng Sài Gòn cứ như thiêu đốt vạn vật. Từng lá cây, ngọn cỏ đứng im lìm như đang chết khát bên đường. Dưới khuôn viên trường, giờ này chẳng còn học sinh nào nữa.
Chỉ có cái nắng tha hồ nhảy nhót, đùa giỡn trên sân trường. Cái oi bức của buổi trưa hè khiến thầy hiệu trưởng phải mở toang cả hai cánh cửa sổ ở tầng hai để mong có chút gió ùa vào. Thầy nhìn xuống sân trường. Chợt thầy thấy một cậu học trò dáng người thấp bé đang đi đi lại lại trên sân trường. Qua cặp kính cận dày cộp thầy chẳng thấy rõ. Do đó thầy bước xuống tầng trệt và gọi cậu học sinh ấy vào. Đó là một cậu bé có nước da hơi ngăm đen nhưng đôi mắt sáng ngời nghị lực. Cậu mặc chiếc áo đã cũ nhưng sạch sẽ và chiếc quần xanh sờn bạc màu. Thầy cất tiếng hỏi cậu học trò nhỏ:
- Sao buổi trưa con không về nhà mà lại tha thẩn ngoài nắng thế kia? Nhà con ở đâu? Con tên gì, học lớp mấy?
Cậu bé lí nhí trả lời:
- Thưa thầy, nhà con ở quận 4. Từ trường về nhà con rất xa nên con ở lại trường đến chiều mới về. Con tên Trần Phú Tài, học lớp 7A7.
Thầy lại hỏi:
- Tại sao con không đăng ký học bán trú như bao bạn khác cho tiện việc đi lại?
Cậu học trò đáp:
- Thưa thầy, bố mẹ con đều là công nhân, làm việc vất vả từ sáng đến chiều tối mới về. Gia đình con khó khăn nên không thể kham nổi tiền học bán trú.
- Thế thì con ăn trưa ở đâu? Con có nhà người quen ở đây à?
- Thưa thầy, không ạ. Sáng nào bố mẹ cũng đưa con đến trường rồi cho con năm nghìn đồng. Một nghìn con dùng để mua xôi ăn sáng. Còn lại bốn nghìn con dùng để ăn cơm trưa ạ.
Nghe Tài hồn nhiên kể, thầy hiệu trưởng chạnh lòng khi mường tượng đến bữa cơm trưa đạm bạc của cậu học trò nghèo có lẽ sẽ chỉ có rau và cá vụn. Thầy xoa đầu Tài và nói:
- Hoàn cảnh gia đình khó khăn mà con vẫn cố gắng đến trường là rất đáng quí. Hẳn con học rất giỏi. Thầy rất vui khi có một người học trò như con. Cứ thế mà phát huy con nhé. Mà này, con làm gì mà đi lại loanh quanh giữa trưa nắng thế kia?
Tài cười nói:
- Thưa thầy, ăn trưa xong con không biết làm gì nên đi nhặt rác để trường mình sạch và đẹp hơn.
Nói rồi Tài vòng tay cúi chào thầy rồi chạy ra sân trường tiếp tục nhặt từng cái bao nilông, từng chiếc lá trên sân trường. Nắng sân trường dường như dịu lại. Thầy hiệu trưởng trở lại phòng làm việc với bao suy nghĩ nhưng niềm vui vẫn rạng ngời trên mặt thầy suốt cả ngày hôm đó.
Trong buổi sinh hoạt dưới cờ tuần sau, thầy hiệu trưởng khen ngợi, tuyên dương tấm gương vượt khó và trao cho Tài học bổng của trường. Thầy còn cho Tài được học bán trú miễn phí.
Cuối cùng người tốt cũng được đền đáp xứng đáng. Qua câu chuyện của Tài tôi nhận ra rằng: “Chúng ta chỉ mất hết mọi hi vọng khi chúng ta từ bỏ chúng”. Mặt khác, tôi nhận thấy cuộc sống này còn nhiều mảnh đời giống như Tài. Họ đang ngày đêm vừa lo toan cuộc sống vừa đến trường. Tôi mong rằng các cấp chính quyền cùng các đoàn thể quan tâm nhiều hơn đến những con người như vậy để mỗi trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đều được sự giúp đỡ như Tài. Tôi thầm cảm ơn Tài vì em đã cho tôi nhận ra rằng mình phải trân trọng những gì đang có. Tôi sẽ hài lòng với chiếc xe đạp cũ của mình vì ngoài kia vẫn còn những cậu học trò hằng ngày phải đi bộ hàng cây số để đến trường. Tôi sẽ không đòi cha mẹ phải nấu những bữa ăn thịnh soạn vì tôi biết ngoài kia còn bao người phải ăn đĩa cơm chỉ có rau luộc và cá vụn. Tôi sẽ hài lòng với chiếc chăn cũ của mình vì biết ngoài kia vẫn có những người đang nằm co ro dưới gầm cầu...
Tài đã cho tôi bài học về nghị lực sống, nghị lực vượt qua khó khăn. Tôi tự nhủ: Hãy hài lòng với những gì mình đang có và hãy đương đầu với khó khăn rồi mình sẽ giành chiến thắng. Mai này, khi lớn lên, dù ở một vùng quê nghèo hay chốn thị thành, dù làm một bác sĩ, kỹ sư hay chỉ làm một người công nhân bình thường, tôi vẫn dành một góc nhỏ nào đó trong tâm hồn để lưu giữ những câu chuyện, những con người như Tài như một tấm gương trong suốt cho đời tôi.
Lời lẽ học trò vẫn còn đôi chỗ non nớt, vụng về, nhưng những suy nghĩ, những cảm xúc này là của một con người đang trưởng thành. Bài thi được chấm điểm 5,5/6. Giấy thi không có ô dành cho nhận xét giám khảo nhưng đối với bài thi này có sự phá lệ. Giám khảo ghi nhận xét ở cuối bài thi: “Qua bài này, cô nhận thấy em là người có tiềm năng văn chương. Nhưng điều quí nhất vẫn là cái tâm cao đẹp. Tài năng văn chương bắt đầu từ tâm. Hạnh phúc cho những người thầy có được những học sinh như em” .
Đề bài:
Báo TS ngày 27-9-2006 có mẩu chuyện như sau:
(...) Một buổi trưa, thầy hiệu trưởng lấy làm lạ khi thấy một cậu học sinh cứ cặm cụi đi nhặt từng cái bao nilông, từng chiếc lá trong sân trường bỏ vào thùng rác. Khi thầy hỏi tại sao buổi trưa không ngủ mà tha thẩn ngoài sân trường, em cho biết bố mẹ đều làm việc vất vả nhưng gia đình rất khó khăn. Đăng ký học bán trú như các bạn thì bố mẹ kham không nổi. Buổi sáng, bố mẹ đưa em đến trường và phát cho 5.000 đồng. Trong đó, 1.000 em dùng để mua xôi ăn sáng và 4.000 còn lại là cho đĩa cơm trưa chỉ toàn rau với cá vụn. Ăn xong, em ở luôn tại trường để tự ôn tập, rồi chiều bố mẹ đến đón.Và em bảo với thầy: “Ăn trưa xong con không biết làm gì nên đi lượm rác để trường mình sạch và đẹp hơn”. Cậu bé ấy tên là Trần Phú Tài, học sinh lớp 7A7 Trường Lương Thế Vinh, Q.1, TP.HCM (...).
Đoạn trích trên không có phần mở đầu và phần kết thúc, em hãy nghĩ ra phần mở đầu và kết thúc cho mẩu chuyện này.
Bằng lời văn của mình, em hãy viết lại thành một câu chuyện hoàn chỉnh.
NGUYỄN KIM LOAN (giáo viên Trường THPT Gò Công Đông, Tiền Giang) giới thiệu

Like và +1 để ủng hộ

 

© 2013 Blog Tổng Hợp. All rights resevered. Designed by Templateism

Back To Top